Trại Ái Tử và Bình Điền (Tiếp theo và hết)

Dù sao đi nữa, không thấy con về cũng đành phải mỏi mắt chờ đợi. Đến năm 1981, anh tôi được trả tự do. Năm 1983, em tôi được thả. Năm 1985, tôi được phóng thích. Cuối cùng tất cả chúng tôi cũng đã được trở về quê nhà. May mắn thay, ba mẹ tôi đều còn sống. Điều lo âu nhất của tôi khi còn trong trại tù, sợ không còn dịp để gặp mặt cha mẹ già trước khi họ nhắm mắt ra đi.

Người đau khổ nhất phải nói là vợ tôi. Khi bước chân ra đi trình diện “học tập cải tạo”, tôi để lại quê nhà một vợ với hai đứa con gái còn nhỏ xíu. Một đứa lên ba, đứa lên hai. Đứa sau chót đang còn nằm trong bụng mẹ sắp sửa chào đời. Vợ tôi phải mang cái bụng, chạy ngược chạy xuôi, buôn tần bán tảo, phần nuôi con, phần tiếp tế cho chồng. Tài sản tôi để lại cho vợ là con số không to tướng. Ngay lúc còn trong quân đội, lương tôi, tháng nào sạch tháng đó, làm gì có dư mà để dành. Lên Đại úy mới được mấy tháng và tháng cuối cùng, vì tình hình lộn xộn, lương chưa được lãnh thì miền Nam đã rơi vào tay Cộng sản! Thật vất vả cho vợ tôi vô ngần.

Nhờ người quen cho mượn ít tiền làm vốn, cũng như được người chị ruột của vợ tôi, Hoàng Thị Giáp, vợ cựu Thượng sĩ Trương Yến, trưởng ban quân xa SĐ1BB, giúp đỡ đùm bọc trong suốt thời gian tôi bị ở tù nên cuộc sống vợ con tôi cũng bớt nhọc nhằn. Mấy năm sau, người anh vợ là Hoàng Công Hội ở bên Mỹ bắt liên lạc được với gia đình, gởi tiền và quà về giúp nên vợ tôi mới đỡ vất vả.

Cảm động trước sự giúp đỡ và đùm bọc này, tôi đã làm một bài thơ gửi về tặng người chị vợ:

Biền biệt lâu rồi 9 năm qua
May sao nhờ chị ở quê nhà
Đùm bọc vợ hiền đàn con dại
Ơn này nghĩa ấy thật bao la
*
Thương chị lòng em những xót xa
Năm năm tháng tháng lệ phai nhòa
Ước chi được làm vua một cõi
Em xin dâng chị nửa sơn hà
*
Hết tù em sẽ về thăm chị
Ơn đền nghĩa trả khắc trong lòng
Rồi em sẽ về thăm quê mẹ
Bên ấy ngày nay nắng đẹp hồng!
*
Quê mẹ chắc gần lắm phải không?
Băng qua bên ấy một dòng sông
Nhớ xưa khi về thăm mộ chú
Chìm ghe em chới với giữa dòng
*
Cho em gửi lời về thăm mẹ
Gần đất xa trời lại vắng con
Chắc mẹ vẫn thường rưng rưng lệ
Chị ơi, em thương mẹ vô cùng!

Bên gia đình tôi đi “học tập” 3 người thì phía gia đình bên vợ cũng thế. Cộng số năm 3 người anh vợ tôi đi tù cải tạo là 18 năm, 3 anh em tôi 24 năm. Tính gộp cả hai gia đình, số năm chúng tôi phải trải qua trong các trại tù cải tạo lên đến 42 năm. Gần nửa thế kỷ ở tù!

Trong suốt thời gian tôi đi tù, cũng giống như hàng trăm, hàng ngàn người vợ tù khác, vợ tôi đã phải lặn lội ngược xuôi, một sương hai nắng, tần tảo bán buôn, chắt bóp nuôi con nuôi chồng, muôn bề cực khổ.

Vừa “lặn lội thân cò”, vừa mỏi mắt ngóng trông ngày chồng trở lại. Những đêm khuya canh vắng, nằm ôm bầy con dại, vợ tôi hằng trằn trọc suy tư trong buồn tủi. Chỉ cần vài tiếng động xào xạc trước sân nhà, vợ tôi lại nhổm người ngồi dậy chạy ra, hy vọng đó là tiếng bước chân chồng về! Đã có bao người đàn bà cùng hoàn cảnh như vậy, không chịu đựng nổi, bỏ gánh nặng giữa đường. Vợ tôi, vẫn một lòng thủy chung chịu đựng, quyết chí chờ đợi ngày tôi trở về, khác chi vua Đường Minh Hoàng bên Trung Hoa thuở trước vì quá yêu thương mà khóc than thảm thiết khi Dương Quý Phi vĩnh biệt cõi đời, qua hai câu thơ đầy ý nghĩa thủy chung:

Ở trên trời nguyện làm chim liền cánh,
Ở dưới đất nguyện làm cây liền cánh.

Mỗi lần nghe tin đồn có đợt tù cải tạo sắp được phóng thích, vợ tôi bỏ cả công việc chạy đến một số những người quen biết, tìm hiểu xem có tên chồng mình trong đợt đó hay không. Tình cờ, gặp những người tù cải tạo được tha về nhà tại các bến xe, đi trên đường…, vợ tôi xà lại hỏi thăm. Mãi 10 năm sau, khi tôi đặt chân về tới nhà, vợ tôi mới yên trí không còn thấp thỏm ngóng mong.

Trong tù, cảm động trước sự chung thủy, chịu đựng, đảm đang của người vợ hiền, dâu thảo, những lúc rảnh rỗi khi thả trâu ăn cỏ, tôi đã sáng tác một số bài thơ, nhạc dành cho vợ tôi:

THƯƠNG NHỚ NGƯỜI VỢ Ở QUÊ NHÀ

Thương em rồi anh ngồi nhìn suối chảy
Nhớ em rồi anh ngước mắt nhìn mây
Sợ em buồn nhưng cũng nhắn chim bay
Rằng thương nhớ đêm ngày không ngủ được


Thương em quá lệ sầu thường nhỏ giọt!
Khóc che em mai một tuổi xuân thì
Trời xanh kia sao gây cảnh biệt ly
Để kẻ ở người đi không về được

Bao năm đợi làm em khóc sướt mướt!
Bao năm chờ chắc em tủi triền miên!
Đợi chờ hoài buồn tủi cũng vô biên
Đừng khóc nữa ưu phiền thêm ngây dại!

Ai xa vắng mà không buồn tê tái?
Ai xa nhau mà không mãi sầu thương?
Dù chuyện tình thần thoại cũng vấn vương
Nói chi nữa đến tình thương hai đứa.

ANH SẼ TRẢ THÙ CHO EM

Ai đã làm cho anh phải xa em
Khi chúng mình sống với nhau thật hạnh phúc và êm đềm
Ai đã làm cho em phải chờ đợi suốt 3650 ngày đêm
Khi chúng mình mới sống với nhau chưa được 4 năm

Ai đã làm cho chúng mình phải nhen nhúm sự hờn căm,
thì kẻ đó sẽ bị nghiền nát vì bánh xe nghìn tấn của lịch sử.

Anh chưa thể trả thù cho em bằng bom rền đạn nổ
Anh cũng chưa thể trả thù cho em bằng những quả bom nguyên tử kiểu Hiroshima.

Mà giờ phút này đây,
anh chỉ trả thù cho em bằng những nốt nhạc lời ca
Và bằng những bài thơ mà lúc chiều tà anh sáng tác được.

Anh sẽ trả thù cho em bằng những bản nhạc:
“Em ra đi rồi”, “Hổ nhớ rừng”,
Cũng như bài “Tiến về Đông Dương”.

Anh sẽ trả thù cho em qua mấy vần thơ như
bài “Căm hờn”, “Gọi bão lên” v.v…
để em vơi những đau buồn.

Chờ một dịp, anh sẽ trả thù cho em bằng sự bộc phát của căm hờn vô giới hạn.
Một ngày mai khi tương lai bừng sáng

Anh sẽ trả thù cho em bằng những hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân.
Cộng với sự trả thù bằng lời ca, nốt nhạc lẫn cung đàn.

Thì anh tin chắc rằng,
Chúng sẽ bị nghiền nát thành tro tàn cát bụi.

ANH SẼ VỀ BÊN EM

Rồi mai mốt anh sẽ về bên em,
Khi nắng chiều còn vương vấn bên thềm
Và nghìn tiếng chim sẽ líu lo hót êm đềm
Như bày tỏ nỗi niềm chào đón anh trở lại.
Anh sẽ hát cho em nghe những bài ca lừng danh nhất trên thế giới.
Anh sẽ đàn cho em nghe những nhạc khúc cổ điển tây phương,
của Mozart, Beethoven, Schubert… thêu dệt những tình khúc hoang đường
Anh sẽ kể cho em nghe những chuyện tình yêu đương thần thoại
Rồi anh sẽ ngâm những bài thơ nói về trăm loài hoa, ngàn cỏ dại.
Và ôm ấp em để giấc ngủ được ngon lành
Cho bõ 10 năm trời thương nhớ vô vàn
Cho bõ gần cả cuộc đời sống trong cảnh chiều tàn
Rồi chúng mình sẽ nối lại tất cả những cung đàn sầu mộng.

GIẤC MƠ KINH HOÀNG

Đêm qua nằm ngủ mà mơ
Vợ hiền con dại ngồi chờ dưới trăng
Đèn dầu le lói tối tăm
Rưng rưng giọt lệ âm thầm khóc thương
Nghẹn ngào đau khổ, đoạn trường
10 năm chờ đợi bi thương hãi hùng
Đợi hoài chẳng thấy bóng chồng
Bao mùa lá rụng, tim hồng héo hon
Trăng khuya chênh chếch đầu non
Vợ hiền con dại vẫn còn chờ trông
Bỗng vì sao lạc phương Đông
Bay ngang trước ngõ tưởng chừng hồn ma
Có người hàng xóm đi qua
Thấy ai ngồi dưới hiên nhà nhìn trăng
Im như pho tượng trên lăng
Lạ lùng vào thử xem rằng người đâu?
Ngồi im bất động nhiệm mầu:
Vợ con hóa đá từ lâu mất rồi!

ĐỢI ANH VỀ

Em ơi, nhớ đợi anh về
Mối tình chung thủy không hề tàn phai
Cho dù nghìn tiếng thở dài
Cho dù cuộc sống đắng cay não nề
Cho dù mưa gió bay về
Cho dù xa vắng tái tê cõi lòng
Cho dù xuân, hạ, thu, đông
Bốn mùa qua mãi, chờ mong mỏi mòn
Cho dù héo hắt tâm hồn
Cho dù nắng cháy độc tôn dưới trời
Cho dù ngao ngán cuộc đời
Cho dù hạnh phúc xa rồi từ lâu
Cho dù đã bạc mái đầu
Cho dù hoa héo nhạt màu rồi phai
Cho dù thác xuống tuyền đài
Thì em vẫn đợi anh hoài nghe em!
Ngày về anh sẽ không quên,
Tặng em “anh dũng bội tinh” sao vàng
Trao cờ chiến thắng huy hoàng
Lá cờ “chung thủy” vẻ vang đời đời.

NÓI GÌ NỮA ĐÂY EM

Nói gì đây nữa em ơi!
Ba-lô súng đạn mất rồi còn đâu!
Còn chăng là hững nỗi sầu
Mười năm quằn quại khổ đau trong tù
Đôi giày “bốt-đờ-sô” nay đã trở thành đôi dép cao su
Bộ quần áo “trây-y” nay đổi thành bộ quần áo người tù
Tay cầm súng, cầm viết nhắm vào quân thù nay đành cầm cuốc!
Nào có ngờ đâu vì những chiến thuật, chiến lược!
Nào có ngờ đâu để rồi ai được, ai còn?
Có phải chăng đây là những thử thách cho tâm hồn?
Ngao ngán quá, em ơi, ngao ngán quá!
Ba-lô quân trang giờ đây chồng chất đầy căm hờn nên nặng quá,
Khiến anh phải để dành một trái bộc phá cho ngày mai
Đợi một chiều êm đẹp anh sẽ ra tay
Nhắm thật chính xác rồi ném ngay vào quân thù để bắt đầu đánh lại.
Không lẽ đến ngày ấy anh vẫn còn điên, còn dại,
Để rồi phải tắm hai lần trên một dòng sông?

Còn có hai bản nhạc tôi đã sáng tác trong thời gian ở trại tù cải tạo dành cho vợ tôi:

* Tình khúc thứ nhất dành cho người vợ hiền.

* Tình khúc thứ hai dành cho người vợ hiền.


































I. THỜI GIAN CHĂN TRÂU

Vào khoảng đầu năm 1983, một hôm tôi đang ngồi sửa cuốc, xẻng trong kho của đội thì tên cán bộ Danh bước vào. Nó bảo tôi chuẩn bị đi chăn trâu thay cho anh Lê Văn Đáp.

Thế là ngày hôm sau, tôi bắt đầu trở thành “đứa bé” chăn trâu lúc tuổi đời vừa đúng 40. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi “được” giữ trâu để chiêm nghiệm cái thú mà nhạc sĩ Phạm Duy từng ca ngợi: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ. Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao…”.

Thực ra, không phải tên cán bộ Danh “chiếu cố” hay “ưu đãi” gì tôi mà giao cho cái công việc tự giác coi bộ nhẹ nhàng, ngon lành này! Đã bước sang năm thứ 9, kể từ ngày chúng giam chúng tôi trong tù cải tạo, đa số các anh em mang cấp bậc Chuẩn úy, Thiếu úy, Trung úy đã được thả về gần hết, chúng phải điều những người còn lại làm những công việc này mà thôi. Trong những công tác lao động trong tù, việc giữ trâu thường được anh em ví là công việc của “giai cấp quý tộc”!

Kể ra cũng đúng. Công việc này khá thảnh thơi. Hàng ngày dẫn trâu đi ăn cỏ, tối dẫn về chuồng. Khi trâu bị xử dụng vào việc cày bừa, nhiệm vụ của người chăn trâu là đi cắt cỏ đem về chuồng để chiều tối khi trâu về có sẵn cỏ ăn.

Giữ một con trâu được đâu vài tháng, tên cán bộ Xuân điều tôi qua coi trâu bầy. Thế là cuộc đời thảnh thơi bắt đầu khổ cực trở lại. Giữ trâu bầy vất vả hơn nhiều. Không cẩn thận theo sát, bầy trâu chạy lung tung vào khu trồng trọt có thể dậm nát hoa màu của trại. Vùng đất trống gần trại dành cho trâu ăn cỏ rất nhỏ hẹp và lượng cây cỏ làm thức ăn cho trâu không mọc kịp. Thường thì phải cắt cỏ bên ngoài về cho chúng ăn thêm. Do đó, trâu thiếu ăn hay chạy lung tung tìm cái để nhồi vào bụng và đôi lúc trở nên cứng đầu, không chịu tuân theo cây roi hướng dẫn của người chăn dắt. Chúng mà nổi cơn vào những lúc mưa gió, thật khó khăn vất vả để kềm chúng lại,

Có một lần trời mưa tầm tã, bầy trâu bị nhột lưng sao đó, nổi cơn bỏ chạy tán loạn khiến tôi phải dương Đông, kích Tây, tả hữu xung đột suốt cả buổi sáng, mệt đến phờ người. Nếu không chận chúng lại để chúng vượt qua con suối, lọt vào khu đồi trồng khoai, đậu phộng phía bên kia thì coi như tôi lãnh đủ.

Sáng hôm đó, tôi ráng sức chạy theo bầy trâu mà không kịp. Mưa thì tầm tã, chiếc dép cao su mang dưới chân phải lại dở chứng sút quai. Bực quá, tôi cởi chiếc dép này cầm tay, chạy đuổi theo bầy trâu cho kịp với một chiếc dép duy nhất bên chân trái. Bàn chân phải cứ thế chạy bừa trên mặt đất, đạp phải những gốc tranh non mới nhú nhọn hoắt như những mũi kim, đâm vào lớp da mỏng dưới bàn chân, nhức nhối thấu tim.

Thông thường trâu đi ăn cỏ suốt ngày, gần chiều tối mới dẫn trâu về chuồng. Mỗi lần sau khi lùa trâu vào chuồng, tôi thường gài then cửa chuồng cẩn thận. Vào một buổi sáng, khi ra chuồng, định mở cửa dẫn bầy trâu đi ăn, tôi chẳng thấy con nào cả. Rà lại trong đầu, tôi nhớ rõ mình đã gài then rất cẩn thận. Vậy thì tại sao?

Thế rồi, hớt hải không kịp suy nghĩ thêm, tôi gọi thêm một người trong đội, cùng chạy đi tìm. Vừa chạy tôi vừa hồi hộp nghĩ thầm trong bụng, chắc bầy trâu sẽ không tha mấy mẫu thuốc lá mới trồng, hoặc là đang phá tan hoang khu đồi trồng khoai sắn và đậu phụng bên kia suối. Mãi đến gần trưa mới tìm được bầy trâu. Tên cán bộ quản giáo kêu tôi lại hỏi:

- Đêm qua anh có cột cửa chuồng trâu lại không?

Tôi đáp:

- Tôi nhớ cột rất kỹ cán bộ.

Chiều hôm đó, sau khi nhốt đám trâu vào chuồng xong xuôi, tôi mới có thì giờ quan sát kỹ cái cửa chuồng. Có dấu răng gậm nát cái then cài phía bên ngoài cánh cửa chuồng trâu nên cánh cửa bị bật ra. Hèn gì bầy trâu được “giải phóng” tự do. Tìm hiểu thêm sau đó, tôi khám phá ra, con trâu Pháo của đội bên cạnh, rượng đực, nhẩy khỏi chuồng tìm sang chỗ bầy trâu nhốt chung tỏ tình với một chị trâu cái khiến cả bầy náo loạn tông cửa chạy ra ngoài.

Trưa hôm sau, lúc vào trại lãnh phần cơm trưa, tôi đọc được trên bảng cáo thị giữa sân trại mấy hàng chữ viết bằng phấn:

“Ban giám thị trại cảnh cáo trại viên Dương Viết Điền đã để trâu ra khỏi chuồng tối ngày 7-3-1984 làm thiệt hại hoa màu của trại như sau:

- 0,50 h thuốc lá.

- 0,50 h đậu phộng.

- 0,50 h hoa màu”.

Chữ h ghi trên bảng có nghĩa là hectare (mẫu). Đọc thấy hàng chữ cảnh cáo trên, tôi giật mình. Không lẽ thiệt hại nhiều như vậy, tôi thầm nghĩ bụng! Sau này có người bảo với tôi:

- Cóc khô! Trâu đạp có một lá thuốc nho nhỏ mà mấy thằng phụ trách trồng thuốc không chịu tưới để đám cây thuốc lá chết héo vin vào báo cáo chạy tội đó thôi.

Lấy cơm xong, tôi xách ra khỏi trại. Đi ngang chỗ anh Nhớ (một người tù khoảng 50 tuổi bị đưa lên trại vì tham gia nhóm “phản động mới”), tôi nghe tiếng anh vọng ra khá lớn:

- Điền ơi! Sao không cho bầy trâu nó phá tan hoang hết cả trại luôn.

Sở dĩ tôi nhớ rõ ngày tháng xảy ra việc này vì đó là một kỷ niệm khó quên trong đời. Còn một kỷ niệm nữa, cũng đã từng làm tôi thất điên bát đảo trong giai đoạn giữ trâu trước đó.

Ngày 15-1-1984, đó là ngày thăm nuôi. Vì gia đình lên tới trại hơi trễ nên khi từ giã vợ ở nhà thăm nuôi vào trại, tôi vội vàng dẫn bầy trâu đi ăn cỏ tiếp kẻo chúng đói tội nghiệp.

Ra tới khu đồi khoảng 10 phút, tôi vấn một điếu thuốc rồi bật lửa hút. Khi điếu thuốc gần tàn, tôi vất cái mẩu đuôi thuốc vào góc bụi chuối và lùa trâu đi. Đi được vài phút nhìn lại thấy có đám lửa phía sau lưng tôi đang bốc lên. Để bầy trâu ăn cỏ tại chỗ, tôi chạy ngược lại xem. Thì ra, ngay tại cái bụi chuối tôi ném cái mẩu tàn thuốc hút dở, đám lá chuối khô bén lửa từ tàn thuốc chưa kịp tắt, được cơn gió mạnh thổi đùa qua, bùng lên cháy và lan rộng ra khắp bụi chuối. Hoảng hồn, tôi nhào lại đạp lia lịa vào đám lá chuối khô đang bắt lửa, hai tay quơ những tàu lá khô chưa kịp bén lửa kéo giật xuống. Nhưng không kịp nữa! Gió mỗi lúc càng mạnh hà hơi tiếp sức ngọn lửa bốc cao, cháy lây qua những bụi chuối kế cận. Thấy vô phương cứu chữa, tôi bỏ mặc và phóng nhanh về chỗ bầy trâu và lùa chúng đi nhanh khỏi khu vực hỏa hoạn đang bắt đầu hoành hành. Tôi lùa bầy trâu chạy tới đâu, lửa bay tới đó. Lửa cháy lan tràn khắp nơi. Gió mỗi lúc một mạnh thêm, lửa bùng lên dữ dội.

Tôi phải cố gắng, vất vả hết sức mới đưa bầy trâu về được tới chuồng, vì khói bốc lên mù mịt làm bầy trâu cũng hoảng sợ không kém người chăn. Cho trâu vào chuồng xong, tôi gài then cửa chuồng cẩn thận rồi nhanh chân phóng vào trại. Vừa chạy vừa liếc nhìn về phía chuồng trâu. Khi thấy vạt lửa tràn đến vạt tranh gần chuồng trâu, tim tôi nhẩy thình thịch, sợ gió thổi tro tàn bay vào mái tranh trên nóc chuồng trâu thì chuồng trâu sẽ bị bốc cháy dễ dàng.

Không biết tại sao, đúng lúc đó, ngọn gió đổi chiều, đẩy ngọn lửa tạt sang hướng khác. Tôi thở phào nhẹ nhõm và yên chí bước về lán.
Kết quả của vụ hỏa hoạn, mấy mẫu tranh và hàng trăm cây chuối mọc sát ven con suối gần đội rau xanh bị thiêu rụi sạch.

Sáng hôm sau, như thường lệ, tôi dẫn bầy trâu ra địa điểm hôm qua để ăn cỏ, vì đó là địa điểm duy nhất được phép.

Tới nơi, tôi để ý quan sát khung cảnh điêu tàn sau cơn hỏa hoạn. Hàng chục mẫu tranh hôm qua còn xanh mơn mởn, giờ chỉ còn lại những cái gốc nám đen sát mặt đất. Một hàng dài những cây chuối dọc theo ven con suối bị cháy xém, những cành lá khô quắt không còn đủ sức đong đưa theo những cơn gió vờn. Mấy chục cái cuốc của mấy tên cán bộ dưới Ty công an đem lên dùng trong công tác tăng gia sản xuất cũng bị cháy nám cả gần hết phần cán, nằm rải rác khắp trên mặt rẫy.

Đang ngắm nhìn “thành quả” của mình, thình lình tên cán bộ Danh bước tới trước mặt hỏi:

- Hôm qua cho trâu ăn cỏ ở đây, anh có thấy ai đốt lửa nghịch làm cháy hết mấy mẫu tranh và đám chuối này không?

Tôi làm mặt tỉnh và trả lời:

- Bận lùa mấy con trâu, tôi không để ý nên không thấy ai hết cán bộ ạ.

Coi bộ nó không thỏa mãn với câu trả lời của tôi, nét mặt còn hầm hầm, nó bỏ đi. Cũng may, tụi nó nghi ngờ mà điều tra ra được, chắc tôi khó thoát cảnh còng tay trong nhà kỷ luật.

Giữ trâu bầy thường gặp nhiều rủi ro. Có một lần trâu đi lạc làm tôi mất ăn mất ngủ.

Có một lần, sau khi lùa trâu vào chuồng, tôi về trại được chừng 15 phút thì anh Võ Trọng Hầu chạy lại kêu tôi báo:

- Điền ơi! Trâu phá chuồng đi đâu hết rồi, không còn một con.
Nghe vậy, tôi chạy vội tới cửa sổ ngó ra phía chuồng trâu xem có đúng như anh Hầu nói không. Quả thật, không một bóng dáng con trâu nào trong chuồng cả. Hớt ha hớt hải, tôi lật đật phóng ra chuồng trâu coi. Gần tới nơi, tôi mới thấy mấy con trâu đang nằm dưới đất miệng nhai nhai lại mớ cỏ đã ăn trong ngày. Hiểu được anh Hầu đùa chơi, tôi lủi thủi vào trại. Về tới lán, tôi tìm anh Hầu cự nự việc anh đùa giỡn làm tôi hú hồn.

Tuy việc giữ trâu bầy có lúc gặp rủi nhưng cũng có lúc gặp may. Số là một buổi nọ, bầy trâu tôi không hiểu sao mất một con. Không thể bỏ nguyên bầy còn lại ở đó, tôi vừa phải lùa chúng đi ăn vừa đi tìm con thất lạc. Cả tiếng đồng hồ sau mới thấy con trâu lạc bầy đang đứng gậm cỏ sau một bụi lách rậm. Giận quá, tôi cầm cái roi, đi nhè nhẹ đến sau lưng nó, định quất một vài roi cho bõ ghét. Vừa đưa cái roi lên cao tính quất vào mông con trâu, tôi chợt thấy một vạt nấm mối mọc ngay dưới chân nó. Mừng quá, tôi vứt cái roi qua một bên, thụp xuống, một tay thò vào sau lưng lấy ra cái bao cát, tay kia quơ lia lịa hái những cái nấm to, mọng bỏ vào. Đầy một bao, vạt nấm hãy còn khá nhiều, tôi phải xử dụng tới cái bao cát dự trữ thứ hai. Kết quả thật khả quan, tôi “thu hoạch” được đầy hai bao cát nấm mối. Tối đó, tôi và người bạn ăn chung có một bữa tiệc nấm mối “7 món” căng bụng!

Một lần khác, khi dẫn trâu ngang qua mấy bụi chuối, thấy cỏ mọc khá nhiều, tôi dừng lại cho bầy trâu gậm cỏ. Chợt nhìn sang bụi chuối gần đó, tôi thấy một buồng chuối có 4 nải đã chín gần hết. Như nắng hạn gặp mưa rào, tôi lặng lẽ đến, hạ xuống nguyên buồng và từ từ ngồi “hưởng thụ” một hơi nguyên nải chuối chín, hơn 16 trái! Số còn lại, tôi tìm một bụi rậm dấu lại để hôm sau ra “xực” tiếp. No một bụng chuối, tôi lấy bao ny-lông đựng thuốc rê, vợ mới đem lên tiếp tế, vấn một điếu châm lửa hút. Bên cạnh, bầy trâu vẫn ung dung, phe phẩy những cái đuôi phất qua phất lại, gậm những ngọn cỏ xanh trên mặt đất. Ngả dựa lưng vào một gốc cây chuối, tôi ngửa mặt nhìn lên bầu trời xanh có những đám mây bàng bạc đang lững thững trôi ngang. Nhả từng cụm khói thuốc bay lên không, nghĩ hoàn cảnh hiện tại của mình, tôi chợt liên tưởng tới mấy câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bèn cất tiếng ngâm nga:

“Ta dại ta tìm nới vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.
Thu ăn chuối mốc, Đông ăn sắn,
Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao”.

Hầu hết mấy anh được đi giữ trâu thường hay mày mò kiếm gì thêm để “cải thiện” như rau ráng, cá mú… Riêng tôi, ít khi làm trừ lúc quá đói. Mỗi khi đói, tôi thường hái rau má, đem xuống suối rửa sạch rồi bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến một cách ngon lành. Thế là xong. Chẳng cần đi câu, chẳng cần làm bẫy giăng để bắt thú rừng, chồn, cáo gì cả. Tôi muốn dành thì giờ để làm thơ, sáng tác nhạc. Đây là thời gian thoải mái nhất, tại sao tôi không tận dụng để ghi lại kỷ niệm của những năm tháng dài đằng đẵng trong ngục tù, cho dù có dở đến đâu đi nữa cũng đã sao!

Trước cảnh trời xanh, mây trắng, nắng hồng, chim kêu, vượn hót, suối róc rách chảy… tâm hồn nghệ sĩ trong tôi nổi dậy. Tôi say sưa sáng tác, quên cả giờ giấc, quên cả mấy con trâu đang ăn cỏ nơi nào. Nghĩ tới đâu, tôi sáng tác tới đó, không nhất thiết đề tài.

Thường trước khi rời khỏi trại, tôi luôn chuẩn bị giấy viết để có sáng tác được gì thì ghi lại. Được bài nào, tôi đem về dấu dưới mái tranh chuồng trâu. Dẫn bầy trâu ra tới bãi, tôi thả mặc cho chúng ăn cỏ, không cần quan sát, chui vào một bụi lau, bụi lách nào đó rồi đắm chìm trong suy tư. Thời gian và không gian không còn quan trọng đối với tôi lúc đó nữa.

Có những lúc say sưa với một đoạn nhạc vừa chợt hiện ra trong óc, đứng giữa bụi lách, tôi lấy “air”, hai tay đưa qua đưa lại như đang đàn, miệng đọc nốt nhạc, lên tông, xuống giọng…, thật chẳng khác chi cảnh trong bài Trúc Lý Quán của Vương Quy đời Đường thuở xưa bên Tàu:

Độc tọa u hoàng lý
Đàn cầm phục trường khiếu
Thâm tâm nhân bất tri
Minh nguyệt lai tương chiếu

“Một mình trong khóm trúc
Ta đàn rồi hát chơi
Giữa rừng không ai biết
Trăng sáng chiếu bên ngoài”

Tôi nhớ có một lần, sau khi làm được một bài thơ, tính đứng dậy bước ra khỏi bụi lách thì bị chóng mặt rồi té nhào xuống đất. Té ra, ham làm thơ mà quên cả bụng đói đến nỗi ngất xỉu. Tỉnh dậy, tôi mò hái ít rau má ven bờ suối, rửa sạch bỏ vào miệng nhai cho đỡ cái cồn cào trong bao tử.

Chỉ sau vài tháng, bầy trâu dưới sự chăn dắt “tận tình” của tôi, trở nên phá phách quá mức. Phần vì vùng cỏ quy định quá nhỏ không đủ cỏ cho chúng ăn, phần vì tôi cứ hăng say với việc sáng tác nên bỏ mặc, chúng rủ nhau “xâm lăng” khu canh tác hoa màu của trại. Ban giám thị trại quyết định dẹp bầy trâu của đội Rau xanh.

Tôi lại được chuyển qua coi một con trâu: con Pháo. Giữ con trâu Pháo thêm vài tháng nữa thì tôi được trả tự do. Thời gian này tôi còn rảnh rang hơn nhiều nên tha hồ sáng tác. Cũng vì rảnh rang như vậy, sáng tác được bài nào, tôi học thuộc lòng luôn để khỏi phải mất công ghi lại và đem về dấu ở chuồng trâu.

Thuộc lòng là biện pháp tốt nhất vì như tôi đã trình bày, tất cả những “tác phẩm sáng tác” của tôi, thơ, nhạc, nhật ký trong tù… đều được chép lại và dấu trên mái chuồng trâu.

Vào một đêm nọ, trời bỗng nổi cơn giông. Bắt đầu, những cơn gió mạnh thổi giựt từng hồi, đùa những cụm mây gom lại kín cả bầu trời, rồi mưa bắt đầu đổ hột. Càng lúc mưa càng tầm tã và kéo dài cả đêm. Nằm trong trại, chúng tôi còn nghe thấy tiếng nước trên nguồn theo dòng suối đổ về ào ào như sắp sửa cuốn tung đi tất cả mọi thứ trên mặt đất.

Khi tiếng kẻng báo thức vừa dứt, tôi chạy ra sân nhìn sang phía chuồng trâu của đội Rau xanh. Một biển nước mênh mông bao quanh khắp trại, mực nước đã dâng cao và sắp sửa tràn vào chuồng trâu. Mưa tuy không còn nặng hột nhưng gió vẫn còn thổi giật từng hồi. Có vài luồng xoáy qua làm nóc tranh trên mái chuồng trâu bay đi ít tấm.

Tôi vội vàng chụp cái nón đội lên đầu, ra cổng xin phép tên cán bộ gác trên chòi canh ra dẫn trâu đi tránh nước lụt. Mục đích chính của tôi là kiểm tra xem mớ “tác phẩm” dấu trên mái chuồng trâu có còn hay đã bị “cuốn theo chiều gió” mất tiêu rồi.

Ra tới nơi, tôi thấy tên cán bộ Xá và vài người trong đội đang đứng trên mặt đường quan sát mấy sào cải trong khu canh tác đã bị ngập nước. Lúc này nước vẫn tiếp tục dâng và gió vẫn rít từng cơn mạnh. Tình thế này, tôi phải ra tay gấp, nếu không, lỡ cái chuồng trâu bị gió thổi sập là lớn chuyện.

Quay sang tên Xá, tôi trình bày:

- Cán bộ! Chắc tôi phải qua chuồng trâu dẫn trâu đến chỗ cao hơn mới được. Nếu không, nước lên ngập chuồng thì khó mà dẫn trâu ra.

Tên này thấy tôi nói có lý nên bằng lòng ngay. Tôi lập tức phóng trên khúc gỗ bắc ngang dòng suối bay đến chuồng trâu. Vừa tới chuồng trâu, tôi chẳng thèm nhìn xem mực nước cao tới đâu, mắt cứ trừng trừng nhìn lên mái tranh nơi tôi cất dấu “tác phẩm” để đời. Hú vía, cái mái tranh chỗ tôi “tàng trữ” tài liệu “mật” hãy còn nguyên vẹn. Yên tâm, tôi móc ra một bọc ny-lông, lấy hết tất cả đống giấy tờ nhét vào trong gói lại cẩn thận và luồn sau lưng quần. Vừa làm tôi vừa quan sát chung quanh. Xong xuôi, tôi mới dẫn con trâu Pháo ra khỏi chuồng và đi về phía cổng trại. Không ngờ đoạn đường gần tới cổng, nước đã dâng lên cao tới bụng. Tay trái tôi cầm sợi giây dắt con trâu, tay phải, tôi cầm cái bọc ny-lông đưa lên trước ngực, bên trong lớp áo mặc, để tránh bị ngấm nước ướt. Gặp khúc nước ngập tới ngực, tôi lại phải dời cái bọc ny-lông lên cổ. Riêng cuốn tự điển loại bỏ túi của anh Trường Thúc Cổn cho mượn, cái bao ny-lông không đủ chỗ nên tôi nhét đại vào túi áo ngực nên bị ngấm nước ướt hết. Tới được chỗ đất cao, tôi tìm chỗ cột con trâu rồi xin phép tên canh gác vào trại, lấy cớ thay bộ đồ ướt nhưng thực ra là tìm chỗ tạm thời cất dấu những món “trại cấm” kia đi.

Sáng hôm sau, trời đã quang đãng. Nước lũ đã rút đi xuống vùng đất trũng vào lúc nửa khuya. Mặt đường đã lộ hẳn. Tôi liền lấy cái bọc ny-lông lận trong lưng, cuốn tự điển còn ướt nhét vào túi quần và ra cổng xin phép đi chăn trâu như thường lệ. Tới chuồng trâu, tôi trả lại cái bọc ny-lông vào chỗ cũ rồi dẫn trâu ra đồng cỏ. Đến một nơi thật vắng, tôi móc cuốn tự điển trong túi quần ra phơi nắng cho khô. Thật là may mắn vô cùng, chút xíu nữa là công trình bao nhiêu ngày sáng tác của tôi đi theo giòng nước cuốn. Chưa kể, nếu nó không bị cuốn trôi đi mà rớt bậy bạ đâu đó, bị bọn cán bộ bắt được thì hậu quả không biết đâu mà lường!

Tôi nhớ lúc đó là cuối năm 1984, với tin đồn trong trại anh em sẽ được qua Mỹ nên tôi quyết chí học thuộc lòng tất cả những bài thơ mình đã sáng tác. Duy có bài “Anh sẽ kể cho em nghe”, tôi chưa thuộc vì bài này dài quá. Mãi tới trước khi đi Mỹ tôi mới thuộc.

Trong thời gian giữ trâu, tôi nảy ra ý nghĩ phải sáng tác một bài hịch, giống như bài hịch của Hưng Đạo Vương khi xưa. Nhưng có lẽ không quen với thể loại này, tôi loay hoay mãi mà không làm được nên cuối cùng bài hịch biến thành bài “Anh sẽ kể cho em nghe 1001 chuyện”. Chính bài này làm tôi suýt rụng tim.

Thường thì sáng tác xong bài nào là tôi đem về dấu dưới mái tranh chuồng trâu. Riêng bài này vì dài quá, sáng tác một lúc không xong, tôi tạm thời dấu dưới bẹ chuối của một cây chuối gẫy nằm vắt ngang trên một cái hố bom nhỏ. Chiều hôm ấy, khi dẫn trâu ra đồng, định đến chỗ cây chuối gẫy lấy ra làm tiếp. Gần tới nơi, tôi giật bắn người khi thấy một tên cán bộ đang ngồi ngay trên thân cây chuối gãy. Một tên nữa ngồi đối diện. Hai tên đang nói chuyện gì đó. Tôi lo thầm trong bụng, rủi không có chuyện làm, ngứa tay nó lột cái bẹ chuối lên chơi là bỏ mẹ. Bắt được cái bài thơ “phản động” này thì không khó để truy ra tác giả. Nét chữ rành rành ra đó. Chỉ có mấy anh chăn trâu mới đến chỗ này chứ đám tù lao động ngoài rẫy làm gì có cơ hội rảnh rỗi héo lánh tới đây. Suy nghĩ miên man trong đầu, không biết làm sao, chỉ còn nước chửi thề trong bụng:

- Tiên sư mày, chán gì chỗ không ngồi mà vác đít đặt vào cái chỗ tao dấu đồ tối kỵ.

Nhìn dáo dác ra xa, tôi thấy thấp thoáng bóng những người đang thu hoạch sắn ở vạt rẫy kế bên. Thì ra, hai tên cán bộ này đang canh gác toán nhổ khoai mì của đội nào đó. Như vậy phải chờ đến chiều tối, xong buổi thu hoạch, hai tên này mới dẫn tù về trại.

Từ xa, thỉnh thoảng tôi cứ ngoái cổ nhìn về phía hai tên công an đang ngồi nói chuyện, bụng thì cứ khấn thầm, mong cho có phép lạ kéo chúng đi chỗ khác chơi. Chả biết có phải vì tôi khấn vái linh thiêng hay là vì ngồi hoài một chỗ cũng chán, một lúc sau hai tên cán bộ dẫn giải rủ nhau đi khỏi. Mừng quá, nhưng phải chờ tụi nó đi khuất xa một đỗi tôi mới làm bộ dắt trâu tiến lại chỗ cây chuối gẫy. Liếc trái liếc phải, tôi thò tay vào cái bẹ chuối, rút thật lẹ bài thơ chép dở nhét vào túi rồi lùa trâu đi ngay.

Chiều hôm đó, tôi quyết định đem bài thơ về dấu dưới mài tranh chuồng trâu cho chắc ăn. Mội lần ra dắt trâu đi ăn cỏ, tôi lại lấy đem theo. Tới bãi, thả trâu ăn, tôi chui vào bụi lôi ra làm tiếp đồng thời học thuộc. Tối về, tôi đem cất lại chỗ cũ. Chính vì thích sáng tác thơ, nhạc và học Anh văn trong thời gian giữ trâu nên có rất nhiều kỷ niệm buồn vui.

Một lần học Anh văn xong, trước khi chuẩn bị dắt trâu về chuồng, tôi dấu cuốn tự điển vào một bụi lách kế mấy bụi sắn hoang mọc gần đó, định sáng hôm sau ra học tiếp. Tối đó, sau khi chấm dứt giờ đọc báo của đội, một tên cán bộ nói:

- Sắn của trại hết rồi. Ngày mai anh Xuân Theo dẫn anh em trong ban văn nghệ đi cải thiện thêm sắn. Bất kỳ chỗ nào có sắn mọc hoang, cứ nhổ hết.

Nghe như vậy, đêm nằm ngủ tôi quyết định sáng mai phải ra thật sớm để lấy lại cuốn tự điển trước khi anh em trong ban văn nghệ tới nhổ mấy bụi sắn mọc hoang. Nếu không lấy kịp, tôi không những mất cuốn tự điển mà còn bị nghi ngờ là sở hữu chủ vì khu này chỉ có mình tôi hay lui tới dắt trâu ăn cỏ. Sáng hôm sau, tôi ra chuồng trâu trước cả anh em trong ban văn nghệ. Rủi thay, vừa tới chuồng trâu thì gặp tên cán bộ Xá. Nó nhờ tôi vác mấy cái cuốc đem vào nhà kho cất. Tôi đành phải làm theo và cố gắng chạy thật nhanh. Khi trở lại được chuồng trâu và dắt con Pháo ra khỏi chuồng thì thấy toán người của ban văn nghệ đã ra khỏi trại và trên đường đi gần tới khu vực có mấy bụi sắn hoang, nơi tôi đang “ém” cuốn tự điển. Từ đàng xa, tôi thấy anh em đang hì hục đào xới mấy bụi sắn hoang kế đám lách ấy. Tôi vội vàng kéo con trâu chạy. Không hiểu sao, như trêu ngươi tôi, con trâu Pháo lại dở chứng cứ trì mình cưỡng lại sợi dây tôi đang kéo đàng trước. Bực bội, tôi buột miệng quát:

- Tổ cha mày, dở chứng hả? Chạy nhanh lên.

Vừa quát, tôi vừa cầm roi quất vào mông nó khiến con trâu lồng lên lao mình chạy. Tôi cũng chạy theo nó. Gần tới nơi, anh em trong ban văn nghệ đã bỏ đi chỗ khác, tôi thấy mấy bụi sắn đã bị nhổ tung lên hết, còn bụi lách gần bên cạnh bị cuốc xới hết ¼ cái gốc. Hồi hộp, tôi thọc tay mò trong bụi lách, cuốn tự điển vẫn còn nguyên vẹn. Hú hồn! Không ai để ý, mục tiêu của họ là đào khoai mì nên cuốc phạm vào bụi lách kế bên. Mất cuốn tự điển, chắc anh Cổn sẽ trách tôi nhiều lắm. Đem được cuốn tự điển vào trại tù là cả một kỳ công! Từ đó tôi quyết định, mỗi ngày trước khi vào trại, mọi vật “cấm kỵ” đều phải đem về dấu tại chuồng trâu cho chắc cú.

Không phải chỉ sáng tác ngoài bãi, buổi trưa giờ trâu về chuồng nghỉ, tôi cũng không ngồi yên. Có một lần, leo lên mái tranh lấy bài thơ đang làm dở nửa chừng xuống tính làm tiếp. Chợt nhìn xuống, thấy con Pháo cũng đang ngước mắt nhìn lên chăm chăm. Chắc nó tò mò không hiểu tại sao tôi lại leo lên nóc chuồng, lục lọi cái gì trong mái tranh chăng? Thấy vậy tôi nạt đùa:

- Mày liệu hồn nghe chưa? Mấy cái này bị lộ ra ngoài, mấy tên cán bộ biết được thì chỉ có mày báo cáo chứ không ai vào đây cả! Câm mồm câm miệng lại nghe chưa?

Thốt ra câu nói, tôi bỗng bật cười. Trong trại đám “ăng-ten” nhiều quá khiến tôi lúc nào cũng phải e dè đề phòng. Giờ đây, trước cái nhìn tò mò của con trâu, tôi lại liên tưởng đến cái đám khốn nạn đó nên mới buông câu nạt nộ con vật vô tri giác này!

Mặc dầu luôn tận dụng tối đa thời gian rảnh rỗi trong lúc chăn trâu để sáng tác nhưng không phải lúc nào cũng cũng được như ý, chẳng hạn những lúc trời mưa bão, nhất là khi thời tiết đổ lạnh. Ai đã từng sống tại Bình Điền mới cảm nhận được cái tiết lạnh của miền rừng núi nơi đây, nhất là vào mùa Đông khắc nghiệt. Cái lạnh xuyên qua lớp quần áo, ngấm vào da thịt làm tê buốt đến xương tủy. Giữa đồng không mông quạnh, gió thổi ào ào từ sáng đến chiều, đứng co ro, run rẩy, thu mình chịu đựng để chống trả lại cái cảm giác buốt giá xâm nhập từ từ vào trong cơ thể. Nhiều lúc, tôi phải gom mấy con trâu lại, cầm roi vung lên vung xuống, quơ qua quơ lại, tưởng tượng như mình là nhạc trưởng đang điều khiển một ban đại hợp xướng nào đó. Hành động như một thằng hề, múa may trước bầy trâu, thật ra chỉ muốn mình nhập vào một vai trò nào đó, quên đi cái hiện tại; đồng thời những cái múa tay cũng giúp cho cơ thể có chút vận động, bớt đi phần nào lạnh lẽo. Khi thì vung tay theo điệu slow, lúc lại đổi sang fox; miệng cũng cất tiếng ca theo. Mưa càng to, tôi càng hát lớn. Trời càng lạnh, tôi càng vung cái roi thật xa, thật cao. Cái lạnh càng thấm, tiếng hát của tôi càng lạc giọng, nhịp đánh của cái roi trâu trên tay tôi cũng mất đi sự kiểm soát. Cơn giá rét của vùng rừng núi Bình Điền, cuối cùng khiến chân tay tôi run lẩy bẩy.

Như đột nhiên nghĩ ra một điều thú vị, tôi cất tiếng cười khoái trá và thét lớn:

- Ta vừa khám phá ra được một điệu nhạc kỳ lạ cho nền âm nhạc thế giới: “Điệu kinh phong”!

Cao hứng với ý tưởng này, tôi cầm cái roi vung lên xuống thật mạnh theo cái “điệu kinh phong” tưởng tượng đó làm mấy “ca sĩ” trâu trước mặt tưởng sắp bị đòn nên hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Khó khăn lắm, một lúc sau tôi mới gom chúng lại được và sau đó lùa về chuồng vì trời cũng đã bắt đầu tối.

Ngoài việc sáng tác, tôi còn lợi dụng việc giữ trâu để luyện tập khí, nhờ hai anh Trần Văn Cát và Võ Trọng Hầu chỉ bảo. Tuy nhiên các anh cũng chỉ bảo qua loa vì không có nhiều cơ hội nên tôi phải tự mày mò luyện mà không có hiệu quả bao nhiêu. Đã có lần khi luyện khí ở thế đứng, lúc hít khí vào tôi thấy khỏe nhưng khi bắt đầu dồn khí thở ra, tôi cảm thấy chóng mặt và té xuống đất. Sau đó, tôi phải chuyển qua luyện khí ở thế ngồi. Luyện ở thế này, tôi không còn bị chóng mặt nữa.

Đúng ra, tôi cũng chỉ luyện tập được khi giữ một con trâu Pháo mà thôi. Với mình con Pháo, tôi chỉ cần cột nó vào một gốc cây nào đó, mặc nó gậm cỏ và yên tâm luyện khí. Vì quá yên tâm, có bữa tôi quên mất con trâu bị cột một chỗ.
Hôm đó nó vừa cày xong, đói bụng, chỗ cái bụi lách tôi cột con trâu, không đủ cỏ cho con Pháo đang đói bụng, nó vùng vẫy, ủi nát bụi lách định dựt bứt dây bỏ đi. Cũng may nó đói quá không đủ sức. Đến khi tôi chấm dứt luyện tập, đi lại chỗ con trâu mới phát hiện bụi lách bị nó quần, dậm nát một khoảng!

Tội nghiệp, con Pháo đói cả buổi chiều. Tôi dắt nó đi ăn bù lại.

Đó là một vài trong số những kỷ niệm vui buồn thời gian chăn trâu của một “cậu bé 40”. Sáng tác cũng nhiều, tôi chỉ ghi lại một vài bài thơ và nhạc ở đây mà thôi.

CĂM HỜN

Đã chín năm rồi, cuộc đời thật là buồn tủi
Sống trong tù, mang thân phận đọa đầy
Da bọc xương, thân xác còn gì đây
Căm hờn quá, người ơi, căm hờn quá!
Giận đến sôi gan muốn vùng lên tàn phá
Nhưng thân tàn ma dại làm sao đây?
Đành phải nuôi ý chí suốt đêm ngày
Chờ phục hận báo thù khi súng nổ
Uất ức này ta dồn thành bão tố
Hận thù này ta dồn thành thác đổ
Chờ một ngày ta sẽ cho bùng nổ
Rực cháy lên như rừng lửa ngút ngàn
Thiêu rụi ngay cái chế độ dã man
Một chế độ bạo tàn nhất thế giới.

HẸN MỘT NGÀY MAI

Đêm không ngủ bước quanh trong phòng vắng
Song sắt buồn phản chiếu ánh trăng khuya
Cảnh đêm tù tăm tối thật chán chê
Lòng quằn quại nghĩ về ngày mất nước

Đi một bước ta căm thù một bước
Nghĩ một lần ta căm giận nghìn thu
Thấy cảnh khổ đau trong chốn ngục tù
Ta thế quyết giành lại cơ đồ cho bằng được

Vẫn còn nhớ ông cha ta ngày trước
Đã hy sinh xương máu giữ đất này
Nỡ lòng nào ta đành chịu bó tay
Nên phải hẹn một ngày chờ hội ngộ

Ngày ấy đến phải là ngày ong vỡ tổ
Súng bom rền đạn nổ khắp nơi nơi
Đánh cho tan tành, tán tác, tả tơi
Thiêu cháy rụi chế độ độc tài sắt máu ấy

GỌI BÃO LÊN

Gọi bão lên cho lâu đài thành quách nghiêng ngửa
Cho lònh ta thêm chan chứa những hận thù
Ch trái đất xoáy tung những cát bụi mịt mù
Cho sụp đổ hệ thống ngục tù đầy bất hạnh

Gọi bão lên cho lòng ta thêm căm giận
Cho núi rừng rung chuyển bốn phương trời
Cho hỏa diệm sơn phun lửa đốt cháy khắp nơi nơi
Cho thác đổ ào ào cuốn trôi lũ bạo tàn ra biển cả

Gọi bão lên kéo về đây tàn phá
Cho Thái Bình Dương nổi sóng dậy phong ba
Cho sấm sét nổ ầm ầm trong vũ trụ bao la
Cho tan xác cái chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa

Gọi bão lên cho mặt trời nổ tung nghìn phía
Cho trái đất đảo lộn cảnh thiên nhiên
Cho bọn độc tài phải nghiêng ngửa đảo điên
Cho chế độ Ngụy quyền phải biến thành tro tàn cát bụi

TÂM SỰ CÙNG CON CHIM NHỎ

Ơ kìa! Con chim nho nhỏ
Lại đây ta nói đôi lời
Ơ kìa! Con chim nho nhỏ
Lại đây tâm sự chuyện đời


*
Chim biết ta là ai không?
Tại sao phải làm mục đồng
Giữa chốn rừng sâu hoang vắng
Rồi uất ức mãi trong lòng

*
Chim biết ta là ai không?
Ngày xưa bên một dòng sông
Có vị anh hùng khởi nghĩa
Ta theo người ấy đến cùng

*
Chim biết ta là ai không?
Thế rồi vào một chiều đông
Đoàn quân chiến bại hãi hùng
Người ấy quất ngựa truy phong

*
Chim biết ta là ai không?
Tướng tá bay qua biển Đông
Để lại hàng ngàn quân sĩ
Ngơ ngơ ngác ngác giữa dòng!

*
Chim biết ta là ai không?
Rơi vào tay địch là xong
Tù binh đành phải bị còng
Rồi bắt ta làm mục đồng


TỰ DO ƠI

Này chim ơi, chim ơi!
Chim bay về đâu đó
Để mình ta trên đồi
Ngồi nhìn mây nhìn gió

*
Chim đã từng đau khổ
Vì mất tự do chưa?
Còn ta thật sầu khổ
Nói ra mấy cho vừa

*
Này chim ơi, chim ơi!
Cho ta cùng theo với
Ta thèm khát lâu rồi
Tự do, tự do ơi!

*
Ước gì có đôi cánh
Ta lướt gió tung trời
Tha hồ bay khắp nơi
Sống tự do đời đời

ƯỚC CHI CÓ LẠI KHẨU SÚNG VÀ CÂY VIẾT

Ước chi có lại khẩu súng và cây viết
Ta xin thề sẽ tiêu diệt hàng vạn quân thù
Ta sẽ mang về cho quê hương
vẻ oai phong lẫm liệt ngàn thu!
Ta sẽ cứu nhân dân Việt Nam
ra khỏi chốn lao tù và nô lệ.

***
Ước chi có lại khẩu súng và cây viết
Ta thề sẽ mang những vòng hoa chiến thắng
về dâng cho quê mẹ
Ta sẽ tái lập trên quê hương một thế hệ
như vang bóng một thời
Ta sẽ mang về cho dân tộc
hàng vạn nụ cười
Sau 10 năm quằn quại giữa cuộc đời đầy đau khổ

***
Ước chi có lại khẩu súng và cây viết
Ta xin thề dẹp tan
những bão bùng giông tố
Ta sẽ thiết lập cho quê hương
một chế độ Cộng Hòa
Rồi cùng toàn dân
hát khúc khải hoàn ca
Nhân dân thế giới tự do và nhân dân ta
sẽ cùng nhau chan hòa cuộc sống











































THAY LỜI KẾT


Một đại văn hào Pháp Quốc, ông Victor Hugo, đã từng nói:“Ouvrir des écoles, c’est fermer la prison” (Mở trường học là đóng cửa nhà tù).

Nhưng tại Việt Nam, từ năm 1975 đến nay, trường học ngày càng bị đóng cửa, đạo đức mỗi lúc một suy vi, xã hội ngày càng bị loạn lạc, nhà tù ngày càng mọc lên như nấm trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

Số người bị bắt giam vào các trại tù cải tạo, lớp này đến lớp khác, năm nọ sang năm kia, lên tới hàng triệu người. Nếu trước đây, Việt Cộng dựng “trại cải tạo” để giam giữ các cán bộ, công chức, nhân viên quân đội, cảnh sát của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa; thì giờ đây, chính những trại này là nơi giam giữ hầu hết những công nhân viên nhà nước của Ngụy quyền Hà Nội, ngoại trừ những chiến hữu của chúng ta trước đây tham gia các tổ chức, đoàn thể chống lại chế độ độc tài của Cộng Sản.

Một xã hội trong đó, nhà tù mọc lên khắp mọi miền của đất nước, trường học ngày càng bị đóng cửa… đúng là một xã hội đảo điên, nghiêng ngửa. Nhân dân ngày một lầm than, đói rách. Bọn cầm quyền chỉ lo củng cố địa vị để vơ vét làm giàu trên xương máu người dân, không hề nghĩ đến việc cải thiện cuộc sống của nhân dân. Bất cứ một tổ chức, lực lượng nào nổi nên chống lại chế độ, chúng sẵn sàng đè bẹp, bóp chết từ trong trứng nước và cuối cùng là tiêu diệt để trừ hậu hoạn.

Xem như thế, từ khi cưỡng chiếm được miền Nam, chúng đã làm gì được cho đất nước, dân tộc?

Chúng đã xử dụng trăm phương, ngàn kế để thu phục nhân tâm. Nhưng rồi chúng đã không những không thu phục được lòng người, mà ngược lại, còn làm cho lòng người ly tán, nhân tâm thác loạn. Xã hội ngày càng đảo điên, dân chúng ngày càng tang tóc, đau thương!

Điều này, chứng tỏ một cách hùng hồn rằng, Cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn thất bại, ngay từ năm 1975, ngay từ lúc chúng cưỡng chiếm được miền Nam, nhờ sự sắp đặt của các thế lực nước lớn trên bàn cờ quốc tế.

Theo một chiến lược gia xuất sắc của Trung Hoa khi xưa, ông Tôn Tử, thì: “Chiếm được đất, phá được thành, đánh tan được giặc chưa phải là chiến thắng; nếu không chiếm được lòng người”.

California ngày 31 tháng 12 năm 1991.
DƯƠNG VIẾT ĐIỀN.



       



Xoá hình nền                                                       Tăng độ chữ

Đăng Bài Mới    Góp Ý Kiến   
phpBB - Creating Communities
Vista theme by HelterSkelter © 2007 ForumImages
Vista images © 2007 Microsoft