Trại Ái Tử và Bình Điền (Tiếp theo)

CHƯƠNG 10

Linh tinh


Để bạn đọc hiểu rõ thêm về chế độ lao tù dưới chế độ Cộng sản, chương này sẽ trình bày về một vài vấn đề liên quan đến các thủ tục khai báo lý lịch, cách thức kiểm tra tù nhân trong trại, sinh hoạt bên lề của tù nhân, những cái chết trong tù, việc trốn trại, liên lạc giữa tù nhân và gia đình, những ngày lễ, Tết v.v…

A. KHAI BÁO LÝ LỊCH

Lúc vào Trại 1 ở Ái Tử được vài tháng, chúng tôi được lệnh tập họp ở hội trường để nghe mấy tên cán bộ Đoàn 76 và nói chuyện về đề tài “Khai báo lý lịch”. Rồi chúng phát cho chúng tôi mỗi người một tập giấy gọi là hồ sơ khai báo.

Sau khi đọc qua những đề mục trong bản khai báo, tôi thấy rõ mục đích, bọn Cộng sản không muốn lý lịch của người khai thiếu sót một chi tiết nào của cả cuộc đời! Chúng bắt khai cả giòng họ 3 đời, từ ông bà nội ngoại đến cha mẹ và con cháu. Ngoài ra còn phải kê khai tất cả tài sản của tất cả những người trong giòng họ nữa. Chúng nhấn mạnh phải thật thà khai báo, không được dấu diếm. Khôi hài một điều, chúng bảo, “cách mạng đã biết hết”, để chúng tôi “tự giác” khai báo là muốn xem chúng tôi chứng tỏ với “cách mạng thế nào. Đây cũng là “thước đo” bước đầu trong việc “học tập cải tạo” để đánh giá từng người.
Bọn chúng còn mánh mung, bắt khai báo đi khai báo lại nhiều lần vào những thời gian khác nhau, để đối chiếu các bản đó xem có gì khác biệt.

Về mục huy chương, tưởng lục, nhiều người nhớ không hết hoặc vì sợ khai hết sẽ bị coi là “ác ôn”, bị trù dập, để ý nên chỉ khai tượng trưng, đại khái, nhất là những anh từng gia nhập quân đội từ thời Pháp.

Anh Hồ Mãng chẳng hạn, từng là Đại úy Tiểu đoàn trưởng, anh nói với tôi, trước sau như một, anh luôn khai giống nhau. Dĩ nhiên anh đã loại ra một số huy chương quan trọng. Vì vậy sau mấy lần khai báo, một tên cán bộ Đoàn 76 đã gọi anh lên và chất vấn:

- Anh đã khai đúng sự thật chưa?

- Thưa cán bộ, tôi đã khai đúng sự thật.

Anh trả lời. Tên cán bộ gằn giọng:

- Có chắc không? Anh nói thật đi.

Anh Mãng vẫn dứt khoát:

- Dạ chắc, cán bộ.

Chờ anh Mãng dứt câu trả lời, tên cán bộ rút từ trong cái “xắc-cốt” đặt trên bàn ra một xấp giấy tờ đưa cho anh Mãng xem. Vừa liếc qua, sắc mặt anh Mãng đổi sang màu tái. Cái tờ giấy anh vừa liếc thấy là bản Tướng mạo Quân vụ của anh. Đẩy mấy tờ giấy tới trước mặt anh Mãng, tên cán bộ hỏi gặng:

- Sao? Anh có biết cái gì đây không?

- Dạ biết.

Anh Mãng lí nhí trả lời. Được thể, tên cán bộ dồn anh:

- Anh đã thấy chưa? Vậy mà anh dám nói với tôi là anh khai đúng sự thật. Chúng tôi đã bảo rồi, chúng tôi biết hết, cách mạng biết hết…
Nó tuôn ra một thôi một hồi những lời lẽ “lên lớp” nhằm “giáo dục” lẫn đe dọa cả mấy tiếng đồng hồ và cuối cùng bắt anh viết lại tờ khai.

Đối lại với những anh khai báo “không thành thật”, một số người lại khai báo khá đầy đủ. Ngay cả Hải vụ, Không vụ bội tinh cũng liệt kê rõ ràng dù là bộ binh chưa một lần ngồi trên máy bay hay xuống tàu đi biển. Nhiều anh sau khi bị chất vấn về những huy chương kiểu này phải thú thật đó là những huy chương xin để nạp vào hồ sơ quân bạ kiếm điểm để chạy mau lên lon! Bọn Việt Cộng lại càng không tin vào những lời giải thích này nên kêu lên kêu xuống nhiều lần để điều tra cho ra lẽ.

Về mục đảng phái, hầu hết anh em đều dính dấp vào đảng Dân Chủ, nhất là những người giữ những chức vụ quan trọng. Một số khác thuộc Quốc Dân đảng, Đại Việt hay nằm trong Phong trào Quốc gia Cấp tiến v.v… Cũng có một số người lớn tuổi, ở trong quân đội lâu, gia nhập nhiều đảng nên khi khai rất phức tạp, nào là Cần Lao, Đại Việt, Dân Chủ… Nội chỉ moi ra những ngày tháng gia nhập, ngày ra khỏi… cũng đủ nhức đầu rồi.

Cứ mỗi lần khai báo, chúng lại phát cho một mớ giấy tờ, khi thì màu xanh, khi mầu đỏ, lúc màu vàng… Lần nào chúng la lối, các anh chưa thành khẩn khai báo, còn dấu diếm nhiều điều quan trọng, nay “cách mạng” cho các anh cơ hội được khai lại. Các anh cần thành khẩn. Đó là quyền lợi của các anh. Về sớm hay muộn cũng bắt đầu từ chỗ này. Các anh tự suy nghĩ và quyết định.

Đa số đều thừa hiểu nên đều “nhất trí” khai “trước sau như một”. Tuy vậy một vài anh còn yếu dạ, sau khi nghe những lời khuyến dụ trên, “mạnh dạn” giơ tay xin giấy để khai thêm những gì còn thiếu sót.

Kết quả trái ngược lại! Vì lời khai bất nhất, họ còn bị nghi ngờ thêm vì sự thiếu thật thà nên mới dấu diếm. Đôi lúc còn bị đánh giá là thành phần “ác ôn” muốn lấp liếm tội lỗi của mình nên lúc đầu không “thành khẩn” khai báo! Họ có bao giờ hiểu được bản chất gian manh của bọn Cộng sản là “giết lầm còn hơn bỏ sót”. Chúng có tin ai bao giờ, đã nghi ngờ phải moi ra cho được, chẳng thà nghi ngờ còn hơn là tin bậy.

Nói như vậy không có nghĩa, những người bị giam giữ lâu trong trại tù là những người không chịu khai báo đầy đủ. Việc xét tha của Việt Cộng đâu có căn cứ vào vấn đề khai báo như chúng nói. Khai báo thật thà không phải là “một điều kiện ắt có và đủ” để được xét tha về sớm như một định đề trong toán học. Thực tế chứng minh, lúc anh em được trả tự do, mỗi người một hoàn cảnh khác nhau. Có người do bệnh tật sắp chết, giữ lại cũng chả đóng góp gì được cho trại, có người có mối quan hệ gia đình sao đó, cũng có người lo lót tiền bạc…, cả 1.001 trường hợp không giống nhau. Nhưng tựu chung, cái quyết định trả tự do cho phần lớn những người tù cải tạo nằm trong sự bàn bạc trao đổi giữa Mỹ và bọn ngụy quyền Hà Nội. Bọn tép riu địa phương hay đám công an trại chả có thẩm quyền gì tối hậu cả.

Vậy mà trong thời gian ban đầu khai báo, đám cán bộ làm vẻ rất quan trọng. Song song với việc khai báo, mấy tên cán bộ Đoàn 76 còn hỏi cung một số anh về những vấn đề liên quan đến chức vụ cũng như phạm vi quyền hạn của họ.

Một Đại úy bị kêu lên hỏi về vị trí những trái mìn còn chôn dấu ở quận Đức Dục. Một anh nữa, Đại úy chỉ huy một đơn vị tác chiến, bị truy dồn phải khai nhận đã giết 134 người phía “cách mạng”. Thật ra lúc đầu anh không hề khai như vậy. Làm sao anh đếm được chính xác con số 134. Chẳng qua, tên cán bộ đặt những câu hỏi dồn ép anh. Chẳng hạn, với cuộc đời binh nghiệp từ khi ra trường mang lon Chuẩn úy đến khi lên được Đại úy, anh khai đụng trận nhiều lần. Tên cán bộ bắt anh phải nói ra con số cụ thể bao nhiêu trận. Bố anh Đại úy cũng không nhớ nổi, đành phải nói đại 50 trận. Nó lại truy anh, mỗi trận như vậy giết bao nhiêu người. Anh trả lời khi có khi không, nó đâu có chịu. Có là có, không là không, và có là bao nhiêu, không thể nói phỏng chung chung! Vậy là lại phải cho ra một con số nào đó. Nếu trả lời không, nó sẽ vặn vẹo, anh đánh bao nhiêu trận, không chiến công mà chúng nó cho anh lên tới cấp Đại úy à. Hoặc những cái huy chương Anh dũng Bội tinh chắc anh lượm được hay sao? Qua lời khai của chính anh, tên cán bộ cộng lại và đưa ra con số 134. Chính anh Đại úy sau khi bị dồn ép, cũng không biết có nên tin vào cái con số “người của cách mạng” đã bị mình giết hay không nữa!

Mặc dù đã phải khai lý lịch năm bảy lần ở Trại Ái Tử, lúc chuyển về Bình Điền, chúng tôi lại bị bắt khai nữa. Rồi sau đó vài tháng, màn kê khai lý lịch lại tái diễn. Với những anh “trước sau như một” thì không có gì để nói. Còn mấy anh đã lỡ thêm thắt, mỗi lần như vậy thật nhức đầu. Họ phải moi óc để nhớ lại những gì mình đã “phịa” ra để khai sao cho khớp với mấy lần trước kia! Chỉ có một lần duy nhất vào khoảng năm 1981, 1982 gì đó, chúng tôi được lệnh khai lý lịch vắn tắt với vài mục: cấp bậc, số lính (số quân), chức vụ và đơn vị phục vụ cuối cùng, thế thôi.

Song song với lần khai báo này là tin đồn tất cả anh em tù nhân trong trại tù cải tạo thuộc “diện ngụy” chúng tôi sẽ bị trục xuất ra khỏi Việt Nam. Còn thêm một tin đồn nữa, Trường Chinh vừa qua thăm Nam Dương có tuyên bố với một nhân vật cao cấp của Mỹ, những người học tập tại các trại đã mất nhân tính và không chịu cải tạo. Nhân viên cao cấp người Mỹ bảo với Trường Chinh, nếu đám tù nhân này không chịu cải tạo thì cứ giao lại cho Mỹ. Thêm vào đó, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch cũng tuyên bố với báo chí sẽ trục xuất những người mất nhân tính và không chịu cải tạo ra khỏi Việt Nam.

Phối hợp những tin đồn và chuyện khai lý lịch ngắn gọn, anh em trong trại bắt đầu suy diễn lần khai lý lịch này là để lập hồ sơ đi Mỹ. Anh em thấp thỏm mừng. Dù bị trục xuất khỏi Việt Nam, lìa xa quê cha đất tổ, bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình chúng tôi vẫn vui mừng và hy vọng cái ngày đó mau chóng tới. Thật là nghịch lý!

Cảm hứng nên tôi làm một bài thơ, tựa đề:

NẾU THẬT NGÀY MAI CHÚNG MÌNH RA ĐI

Nếu thật ngày mai chúng mình ra đi
Thế thì đêm nay mình ngủ làm chi
Quây quần bên nhau mà ca hát
Vui sướng lên đi dù sắp biệt ly


***
Nếu thật ngày mai chúng mình ra đi
Tiếc gì đêm nay mình không cụng ly
“Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác”
Chuẩn bị hành trang xuống tàu mà đi


***
Nếu thật ngày mai chúng mình ra đi
Thức trắng đêm nay tâm sự những gì?
Giã từ quê hương ra đi là hết
Không trăm lần không rồi sẽ trở về


***
Nếu thật ngày mai chúng mình ra đi
Ôm hận mười năm nay phải làm gì?
Hẹn một ngày mai trở về giải phóng
Uất ức nghìn năm nhớ đến lời thề


***
Nếu thật ngày mai chúng mình ra đi
Vui sướng làm sao, hạnh phúc tràn trề
Hát đi, đàn đi, uống đi rồi nhảy
Mai xách va-li, vĩnh biệt tù đày.

Chợt nghĩ đến gia đình ở quê nhà mà lòng buồn vời vợi. 10 năm biệt ly dài đằng đẳng, bây giờ lại sắp xa mãi ngàn năm, biết bao giờ mới gặp lại. Nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến anh em ở quê nhà mà lòng quặn đau. Nhưng biết làm sao bây giờ! Trên đoạn đường của giòng lịch sử, ngang khúc quanh này thật là ngặt nghèo. Thôi đành phải chấp nhận ra đi biết đâu có ngày trở lại. Thế rồi tôi ngâm mấy câu thơ của một thi sĩ nào đó, lâu ngày không còn nhớ tên:

“Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say”

Nhưng đau lòng hơn nữa, lúc nghĩ đến người vợ hiền, dâu thảo. Người đàn bà Việt Nam điển hình, đã chịu đựng một cuộc đời trăm đắng nghìn cay, đã “lặn lội thân cò khi quãng vắng, eo xèo mặt nước buổi đò đông” để nuôi con, nuôi chồng ở tù suốt 10 năm trời dài đằng đẳng! Bây giờ nếu phải bỏ vợ, bỏ con ra đi thật tội nghiệp biết chừng nào! Nhưng có cách gì hơn. Thà ra đi để còn có ngày trở lại, còn như cứ ở mãi chốn lao tù này, vợ con còn khổ cực suốt đời. Bất giác tôi lại ngâm mấy câu thơ của Quang Dũng:

“Bỏ em anh đi
Đường hai mươi năm
Dài bao chia ly

Có những vợ chồng
Không là trăm năm
Mà tình yêu thương…”

Sau đó, tôi làm một bài thơ nữa, tựa đề:

GIẤC MỘNG ODYSSÉ

Anh biết em
Đã chờ đợi những mười năm trời
Đến điên dại!
Không biết em có thể chờ đợi anh thêm
Mười năm nữa
Thật hãi hùng!
Vì suốt đời, anh luôn nuôi chí tang bồng
Hằng ấp ủ để được thành chàng Ulysse
Trong bản trường ca Odyssé của thần thoại Hy Lạp
Chắc không bao giờ em muốn trở thành nàng
Pê-nê-lốp?
Vì phải chờ đợi anh thêm 20 năm nữa phải không em?
Cộng với sự đợi chờ 10 năm tù nữa làm em phải khóc thêm
Thế thì còn gì nữa, phải không em?
Cuộc đời còn gì nữa!
Nhưng em hỡi!
Giấc mộng vàng hãy còn lở dở
Vì suốt đời anh vẫn luôn thích phiêu bạt giang hồ
Để thực hiện giấc mộng Odyssé đời đời bất tử
Thôi,
Em hãy gắng đợi chờ anh một thời gian dài nữa
Rồi mai kia chắc chắn anh sẽ trở về
Như nàng Pê-nê-lốp chắc chắn đã nằm trong vòng tay
Chàng Ulysse trong bản trường ca Odyssé
Anh sẽ mang về cho em tràn trề những hạnh phúc.

B. KIỂM TRA HÀNG NĂM

Hàng năm bọn cán bộ trong trại tù cải tạo thường tổ chức những lần kiểm tra đồ đạc của tù nhân hai lần, một lần vào giữa năm và một lần cuối năm. Ngoài ra có những lần kiểm tra “đột xuất” (bất thình lình), khi có một biến cố nào đó hoặc nhằm phòng ngừa một âm mưu, hành động nào của tù nhân mà chúng nghi ngờ.

Mục đích các cuộc kiểm tra này để lục xét những vật liệu mà nội quy trại cấm tù cất giữ. Tất cả những thứ như: tiền mặt, dao, kéo, diêm quẹt, bật lửa, gạo,muối, truyền đơn, tài liệu mật, sách vở “phản động”, sách báo ngoại ngữ, nhất là Anh ngữ v.v… là những thứ tù nhân không được cất giữ tại chỗ nằm.

Đó là những phương tiện, theo tụi cán bộ, anh em tù có thể dùng để chống lại chế độ hay trốn trại. Đặt ra quy lệ hàng năm 2 lần nhưng không nhất thiết phải đúng ngày tháng cố định. Chúng muốn là khám xét bất thần. Luôn luôn chúng giữ bí mật vì nếu biết trước anh em sẽ tìm cách tẩu tán hoặc phi tang những món “bất hợp quy” này.

Có khi anh em tập họp trước sân chờ dẫn đi lao động, thình lình cán bộ an ninh trại xuất hiện, kèm theo một số quản giáo và một đám công an nữa, một tên cán bộ ra lệnh đi vào hội trường thế là anh em biết ngay có kiểm tra “đột xuất”. Anh nào có cất giữ đồ cấm kỵ hết đường trở tay. Trong khi đám tù ngồi xếp hàng trên hội trường, bọn quản giáo và đám công an đi vào từng lán, lục tung đồ đạc tù nhân tìm kiếm.

Lại có lúc, chúng truyền lệnh cho anh em tù tập họp, mang theo hết đồ đạc cá nhân để chuyển trại. Mọi người tưởng thật, bao nhiêu “tài sản”, kể cả những vật “cấm kỵ” cất dấu kỹ cũng ráng moi ra nhét trong hành trang của mình vì sợ đến chỗ mới là mất. Đến khi chúng ra lệnh bày hàng ra sân anh em mới biết bị lừa thì đã trễ!

Cũng có trường hợp, tùy theo cán bộ quản giáo từng khối, đội, bày ra kiểm tra riêng trong phạm vi chúng trách nhiệm. Một lần, đội 1 của tôi được lệnh kiểm tra. Anh Trần Văn Cát, Trương Thúc Cổn, Hồ Văn Thống và tôi nằm kế nhau cùng một dãy. Hai tên kiểm tra lúc đó là tên Điều và Lê Trung Cọng. Khi lục soát đồ đạc anh Thống, tên Cọng bắt được 2 lá thư. Đọc xong nó hỏi anh Thống:

- Hai bức thư này của ai?

Anh Thống trả lời:

- Của anh Cát và anh Điền. Thấy tôi sắp được chuyển về bệnh viện chữa bệnh nên hai anh ấy nhờ tôi gửi thư về thăm nhà, nhờ tôi trao lại cho gia đình họ.

Tên Cọng quát:

- Láo.

Thế là quay sang tên Điều, nó ra lệnh:

- Đồng chí ghi vào sổ cho tôi. Đã bắt được 2 lá thư của đồng bọn gửi ra ngoài để móc nối với bọn “phản động”.

Nghe như vậy anh Thống tái mặt. Sau buổi kiểm tra, anh Cát và tôi tới an ủi, khuyên anh không nên lo lắng. Nội dung 2 lá thư anh cũng đã đọc, chỉ là những lời thăm hỏi gia đình. Phần tôi có nhắn vợ đem lên một đôi tất mang cho ấm vì mùa Đông ở Trại Bình Điền thời tiết khá lạnh.

Tội nghiệp cho anh Thống, anh lo vì 2 bức thư đó chúng không cho anh đi bệnh viện. Dẫu gì việc chuyển thư ra ngoài cũng là điều cấm có ghi trong nội quy trại. Cuối cùng không biết có phải vì vậy hay không mà anh không được chuyển đi chữa bệnh. Đúng hơn, việc này còn đang chờ đợi ban giám thị trại cứu xét chứ không hẳn là đã được chấp thuận, và chúng tôi cũng chỉ nghe phong phanh thế thôi.

Qua buổi kiểm tra ở đội này, vài anh nữa cũng phải làm kiểm điểm vì cất dấu những vật “cấm” như vài đồng bạc, dao gọt khoai, bật lửa…

Ngoài các buổi kiểm tra có tính các quy mô nói trên, thỉnh thoảng bọn cán bộ an ninh còn vào trại khám xét đồ đạc trong lúc anh em tù ra ngoài lao động. Khi tôi đổi qua đội của tên cán bộ Huệ, một bữa toàn bộ anh em trong đội được lệnh lên rừng lấy gỗ chỉ trừ vài anh khai bệnh. Lúc về trại, mấy anh khai bệnh nói lại, bọn cán bộ an ninh đã vào lục soát đồ đạc của 3 người: tôi, anh Lê Văn Đáp và anh Sỏ. Không biết bọn “ăng-ten” báo cáo gì đó mà chúng chỉ vào lục soát đồ đạc của 3 người chúng tôi mà thôi. Suy nghĩ mãi, tôi mù mờ đoán được, tôi hay liên lạc với anh Cát ở đội khác, anh Đáp thì thường gặp gỡ mục sư Nguyễn Thiện Tín, còn anh Sỏ vẫn lui tới với anh Trương Thúc Cổn. Các anh này đang bị bọn an ninh trại theo dõi vì bị xếp vào thành phần “phản động” của trại. Có lẽ vì vậy mà chúng bất thần vào kiểm soát đồ đạc của chúng tôi xem có tìm thấy gì không.

Sau vụ này, bọn chúng không tìm thấy vật “cấm” nào trong đồ đạc cá nhân của tôi, chúng lại đổi tôi về lại đội cũ do anh Phạm Hữu Hiệt làm đội trưởng. Chính tôi vừa được đưa ra khỏi đội này khoảng một tháng để làm tự giác, nay lại đưa về đội cũ. Đội này tập trung hầu hết những người mà ban giám thị trại liệt vào loại “nghi ngờ phản động”, cần theo dõi đặc biệt, không được làm công tác lao động tự giác. Riêng chỗ anh Lê Văn Đáp, chúng tìm thấy một thẩu ớt dầm nước muối chừng 30 trái. Không biết nghĩ sao, tên cán bộ an ninh cho xét luôn tất cả những người còn lại trong đội. Kết quả ai cũng có, kẻ ít người nhiều.

Tối hôm đó, tên cán bộ tập họp anh em lại và la lối om xòm về việc anh em trong đội ăn cắp ớt về dầm nước muối. Thực ra, ớt đó là do anh em đi lấy gỗ rừng, tình cờ bắt gặp một vạt ớt nằm trên một khoảng đất trống không có nhà cửa, nghĩ là ớt rừng mọc hoang, xúm vào hái, đem về ngâm nước muối để ăn dần. Vô tình bị kiểm tra bất thần phát hiện.

Tóm lại, việc kiểm tra, chính thức hay bất thần, quy mô hay lẻ tẻ… đều là những phương pháp mà bọn cai tù Việt Cộng áp dụng để tước đi bất kỳ những thứ gì tù nhân có thể dùng để chống lại chúng. Chúng lúc nào cũng sợ tù nhân trốn trại hay nổi loạn. Tốt nhất là phòng xa và kiểm tra thường xuyên là một cách hữu hiệu vô cùng.

C. NHỮNG CON SỐ KHỔ ĐAU

Lúc còn ở trại tù cải tạo, cứ mỗi lần ra hay vào cổng trại, chúng tôi bị bắt buộc phải cất nón chào, nếu không sẽ bị phạt. Thoạt đầu còn thấy ngượng ngượng, khó chịu, lâu ngày quen dần, chúng tôi làm như cái máy. Mỗi ngày chúng tôi phải ra vào cổng trại ít nhất là 4 lần (sáng 2 chiều 2). Như vậy, nếu tính trong 10 năm tù, chúng tôi phải đưa tay lên cất nón xuống là 14.600 lần.
Riêng về tiếng kẻng trong trại, mỗi một ngày, chúng tôi phải 22 lần nghe tiếng kẻng của tên cán bộ ngồi trên chòi canh đánh:

1. Kẻng thức dậy.
2. Kẻng nhận thức ăn sáng.
3. Kẻng tập họp đi lao động.
4. Kẻng giải lao.
5. Kẻng nhận cháo cho người bệnh buổi trưa.
6. Kẻng hết giờ giải lao, làm việc lại.
7. Kẻng nghỉ việc buổi trưa vào trại.
8. Kẻng nhận cơm trưa.
9. Kẻng vào phòng khóa cửa nghỉ trưa.
10. Kẻng thức dậy buổi xế trưa.
11. Kẻng tập họp đi lao động buổi chiều.
12. Kẻng nghỉ giải lao buổi chiều.
13. Kẻng làm việc lại.
14. Kẻng nhận cháo buổi chiều cho người bệnh.
15. Kẻng nghỉ việc buổi chiều.
16. Kẻng nhận cơm chiều.
17. Kẻng đọc báo buổi tối.
18. Kẻng vào phòng khóa cửa buổi tối.
19. Kẻng đi ngủ.
20., 21.,22. Kẻng đổi gác sáng, chiều, tối của mấy tên cán bộ canh gác.

Tổng cộng, 10 năm tù, lỗ tai chúng tôi phải nhức nhối vì nghe tới 80.300 lần đánh kẻng!

Riêng về vấn đề sinh hoạt hàng tuần, chúng tôi có 2 buổi vào ngày thứ năm để tổng kết công tác lao động trong tuần và ngày thứ sáu để bình bầu người xuất sắc.

Cứ mỗi lần sinh hoạt, chúng tôi phải vỗ tay và ca hát. Chưa tính đến hàng trăm lần sinh hoạt bất thường khác, trong 10 năm, chúng tôi phải vỗ tay và ca hát ít nhất 1.040 lần.
Những con số trên chưa bằng một góc những con số trong công tác lao động hàng ngày.

Hồi còn ở Trại Ái Tử, mỗi ngày chúng tôi phải đi bộ 20 cây số để đem về 2 gánh củi cho trại. Giả sử, chỉ có những người chuyên môn đi lấy củi thì một năm, những người này phải đi bộ một quãng đường dài 7.300 cây số và 10 năm con số sẽ là 73.000 cây số. Để đem về kịp trong ngày hai gánh củi nặng 40-50kg, cách xa trại như vậy, chân lại mang dép Bình-Trị-Thiên, người tù phải vừa đi vừa chạy trong khi ăn sắn, khoai với rau và muối là chính.

Việc cuốc đất, trồng trọt cũng có những con số khổ đau không kém. Mỗi ngay chúng tôi phải lao động 8 tiếng. Trung bình, một phút chúng tôi phải đưa cuốc lên xuống 15 lần. Như vậy một ngày động tác này lập lại 7.200 lần. Một năm 2.628.000 lần và 10 năm sẽ là 26.280.000 lần (hai mươi sáu triệu hai trăm tám mươi ngàn lần).

Để lao động như thế, số lượng mồ hôi toát ra khỏi cơ thể cũng là một điều đáng lưu tâm. Trung bình một ngày mỗi tù nhân mất ít nhất 6 lít mồ hôi. Một năm 2.190 lít và 10 năm mất tổng cộng 21.900 lít mồ hôi. Nếu hình dung bằng những thùng phuy đựng xăng 200 lít, để chứa số mồ hôi đó, mỗi người cần 105 thùng để hứng lượng mồ hôi của họ đã đổ ra cho công việc lao động.

D. NHỮNG NGƯỜI CHẾT TRONG TÙ

Cái chết trong các trại tù cải tạo có nhiều nguyên do. Ngay trong trại tôi, có người tự tử, có người vì trốn trại bị bắn trên đường tẩu thoát, có người bị xử bắn sau khi bị bắt lại, có người vì quá đói ăn bậy bạ trúng độc, có người bị bệnh không thuốc men cứu chữa, cũng có người bị tra tấn, đánh đập, hành hạ cho đến chết…

Trại 1 ở Ái Tử, thuộc tỉnh Quảng Trị, người chết đầu tiên là anh Nguyễn Văn An, Thiếu tá, Trưởng phòng An ninh SĐ1BB. Vào khoảng 12 giờ đêm, anh thức dậy ra khỏi lán đi làm vệ sinh cá nhân thì bị té, không rõ nguyên nhân, Khi phát hiện, các bác sĩ và y tá cố gắng cứu chữa nhưng không kịp. Anh qua đời khi mới vào trại được vài tháng. Sau đó ban giám thị có cho điều tra và thông báo anh bị trúng gió chết nhưng cũng có nguồn tin đồn anh tự tử.

Lần đầu tiên có người chết trong trại tù cải tạo, anh em rất buồn bã. Cuộc sống trong trại đã thê thảm nay càng thê lương hơn. Vì trại sẵn có xưởng mộc nên quan tài được đóng ngay. Chiều hôm sau các khối trưởng được lệnh tập họp để đưa anh An đến nơi an nghỉ cuối cùng. Anh được chôn cất trên một ngọn đồi gần trước mặt trại. Mỗi lần đi lao động ngang qua, anh em nhìn thấy nấm mộ, ai cũng bùi ngùi xúc động. Trước khi mất, anh An có khiếu may vá nên được giao nhiệm vụ may và sửa quần áo cho anh em tù trong trại. Có lần tôi mang tới nhờ anh vá lại bộ treillis muốn rách gần như tả tơi, anh cười và chọc:

- Trời ơi, bộ đồ này còn vá gì được nữa. Phải chi Điền tới sớm chút nữa tôi cho một bộ đồ còn đỡ hơn bộ này. Tôi vừa mới cho một anh cách đây vài phút xong!

Vài ngày sau đó thì anh mất. Sau cái chết của anh An là cái chết của anh Bửu Kế, Thiếu tá Quân cụ. Hình như anh Kế buồn chuyện gia đình sao đó nên uống thuốc tự tử. Nguyên nhân này từ anh em Khối 1, là khối của anh đồn ra. Người chết thứ 3 là Đại úy Đỗ Ra. Anh này có người em ruột tên Đỗ Tốt, cũng mang cấp bậc Đại úy và cùng chung một trại. Nguyên do, anh Ra định tháo một trái tạc đạn thì bị phát nổ, mảnh của trái tạc đạn ghim lỗ chỗ khắp thân thể anh.

Về Trại Bình Điền, tôi gặp anh Lê Phước Ánh, một sĩ quan CTCT khóa đàn em, cùng trường, có kể cho tôi nghe về cái chết của một bác sĩ tên Giang khi ở chung trại với Ánh.

Ông bác sĩ Giang tự tử chết và sau khi ông ta chết, anh em trong trại thấy một cô gái còn trẻ, rất đẹp, ngồi bên nấm mộ của ông này khóc lóc sướt mướt rất tội nghiệp. Một số anh em đi lao động ngang qua, thấy cảnh cô ta ôm nấm mộ kêu gào, lăn qua lăn lại trên mặt đất như muốn chết theo người đang nằm dưới mộ. Có người tò mò lại gần dọ hỏi thì được biết cô ta tên Mai, là giáo sư, người yêu của bác sĩ Giang, đã từ Sàigòn ra tận Quảng Trị để thăm mộ người yêu quá cố. Một thời gian sau, anh em đi ngang qua mộ, thấy có một tấm bia bằng ván với hàng chữ như sau:

“San toi, je suis seul.
You love me how I love you.
Anh ơi, chờ em nhé!”

Giang Mai.

Tạm dịch:

“Không có anh, em cô đơn một mình.
Anh yêu em thế nào thì em cũng vậy.
Anh ơi, chờ em nhé!”
Giang Mai.

Khi về Bình Điền, số người chết nhiều hơn ở Ái Tử. Tại Trại 1 Bình Điền, nhiều anh đã qua đời vì bị đánh đập quá tàn nhẫn, gây thương tích trầm trọng trong lục phủ ngũ tạng nên vô phương cứu chữa. Điển hình là anh Nguyễn Văn Báu, Đại úy, người đã tham gia vụ 20 tháng 4 ở Trại 4. Sau khi bị bắt, anh bị đánh đập dã man, dập lá gan. Sau một thời gian, mặt sưng phù, bụng trương lên, nước da chuyển màu vàng và vài tuần sau anh vĩnh biệt cõi đời. Xác anh được đem chôn tại một ngọn đồi gần trại.

Còn hai anh Sừng và Thiện bị bệnh lao quá nặng, chữa không khỏi và chết. Riêng anh Thiện, hình như là Đại úy sĩ quan trợ y. Anh đã dược thả sớm nhưng sau đó lại tham gia vào nhóm “phản động” nên bị bắt giam trong lao Thừa Phủ một thời gian rồi chuyển về trại. Có lẽ anh lây nhiễm lao trong khi bị nhốt ở Thừa Phủ. về đây bệnh đã trở nặng nên không còn cách chữa. Bọn cán bộ lại không cho chuyển đi bệnh viện nên đành bó tay. Anh Sừng bịnh trầm trọng hơn. Khi tẩm liệm. anh em đã phải rải vôi vào trong quan tài cũng như khắp phòng kỷ luật để khử vi trùng.

Trong các cái chết tại Trại 1 Bình Điền, bác Tuyến là người chết êm thắm nhất. Bác bị bệnh thấp tim từ lâu, qua một đêm ngủ êm đềm, bác vĩnh viễn không tỉnh dậy. Chỉ có điều hai môi bác tím bầm vì ảnh hưởng của căn bệnh. Có lẽ bệnh của bác Tuyến do bẩm tố thiên về nhiệt, kết hợp với các yếu tố phong, thấp, nhiệt bên ngoài lâu ngày mà sanh bệnh. Cơ tim bị viêm, nội tâm mạc cũng bị viêm đưa đến nhiệt tý và tâm tỳ tổn thương quá nặng mà qua đời.

Những cái chết này, tôi nhớ tới đâu kể tới đó chứ không theo thứ tự thời gian, ai chết trước chết sau.

Một cái chết khác cũng khá lạ. Trong một buổi lao động ngoài rẫy, cả đội đang loay hoay làm cỏ bắp, trời đang nắng chang chang gay gắt bỗng mây đen ngùn ngụt từ đâu kéo tới, che tối bầu trời đồng thời sấm chớp vang dội khắp nơi. Thình lình một tiếng sét long trời lở đất, một tia sáng ngoằn ngoèo từ trên cao xẹt xuống đúng ngay chỗ bác Phu đang đứng dãy cỏ. Bác té nằm xuống đất, cả cái thân hình bác một màu xám đen, bác chỉ kịp co quắp được ít cái rồi tắt thở. Anh Hồ Đình Chi, thiếu úy Cảnh sát đứng gấn anh nhất cũng bị thương nặng phải nằm điều trị một thời gian lâu mới lành. Sau đó gặp tôi, anh hay bông đùa:

- Anh Điền thấy không, trời đánh mà tôi còn không chết thì ai mà đánh tôi chết được!

Hầu hết những người ở Trại 1 qua đời vì vô phương cứu chữa. Riêng trường hợp của anh Sanh và anh Ánh, tôi thấy cái chết của họ thật đau khổ. Đó là 2 thanh niên ở Thuận An, Huế, bị đưa vào trại vì can tội vượt biển. Lúc đó hai anh này đang lao động tại lò gạch ngoài trại. Vì bị cảm sốt, hai anh được đưa vào trong trại để điều trị. Khi mới đưa vào, tình trạng bệnh chưa đến nỗi nặng. Chỉ vì một anh y tá tên Mỹ, người bị bắt đưa vào trại vì tham gia nhóm “phản động”, không biết loay hoay chữa trị thế nào khiến bệnh tình hai anh biến chứng thành trầm trọng hơn. Chính anh Mỹ từng khoe với tôi, anh ta phải đọc thêm sách của đại học y khoa năm thứ hai, để có thêm kiến thức mà áp dụng vào việc điều trị. Thành thử với cái “kiến thức y khoa” như thế, cộng thêm trình độ giới hạn của “bác sĩ” cán bộ trại, khi anh Mỹ cầu viện xuống tiếp ứng, sinh mạng hai anh này không còn kéo dài được bao lâu. Thực sự, chỉ cần một y tá “tương đối” khá hơn anh Mỹ một chút, hai anh đã không đến nỗi bỏ mạng!

Nói cho công bằng, nhiều người chết trong trại, một phần do “tài” chữa trị của các “vị” y tá, bác sĩ như thế, một phần lớn nữa do không có thuốc men. Bác sĩ có tài giỏi cỡ nào mà phương tiện y tế không đầy đủ, dược liệu thiếu thốn, việc điều trị cũng đành bó tay.

Như trường hợp dưới đây của bác Miêu. Bác này khoảng 60 tuổi, theo nghề mãi võ Sơn Đông từ lúc còn nhỏ, đi cùng khắp đất nước Việt Nam. Không hiểu vì lý do gì mà đến năm 60 tuổi lại bị bắt vào đây “cải tạo”. Trong một buổi văn nghệ trại, bác Miêu tình nguyện lên sân khấu biểu diễn một “show” trong nghề mãi võ Sơn Đông bán thuốc của bác.

Sau một bản hợp ca, đến màn trình diễn của bác. Bác Miêu từ trong hậu trường bước ra, cúi đầu chào khán giả. Kế đó, Bác nằm xuống dưới đất, ngửa mặt lên trời, hít một hơi dài, gồng mình luyện khí sao đó. Cái bụng bác bắt đầu săn cứng lại như cục sắt. Một anh, vóc người to lớn bước ra, hai tay cầm một cái búa tạ của lò rèn thật to, nện xuống bụng bác một cái thật mạnh. Một tiếng “ọc” vang lên từ trên sân khấu vọng xuống đám khán giả đang ngồi xem trong hội trường.

Sau khi nện một cú thật mạnh, anh phụ diễn đặt cái búa xuống đất, cúi chào và đi vào trong hậu trường, anh em cả hội trường vừa huýt sáo, vừa vỗ tay vang dội như cổ võ tán thưởng màn trình diễn độc đáo, thật xuất sắc của bác Miêu. Khi những tiếng vỗ tay đã chấm dứt được một lúc, hội trường trở lại không khí im lặng, anh em chờ màn kế tiếp, bác Miêu vẫn nằm bất động dưới đất. Mọi người còn đang ngạc nhiên thì ít phút sau, bác Miêu từ từ ngồi dậy. Hình như bác ta có vẻ đau đớn sao đó, hai tay ôm lấy cái bụng, gượng đứng lên một cách khó khăn chậm chạp. Mọi người thấy anh phụ diễn chạy ra sân khấu đỡ ngang lưng bác Miêu và dìu vào trong.

Ngay tối hôm đó, cả trại hay tin bác Miêu đã qua đời sau khi được đưa lên trạm xá cứu cấp. Nguyên do, phối hợp không ăn ý. Đúng ra, anh phụ diễn phải chờ cho cái bụng bác Miêu thật săn cứng lại mới vung búa đập. Đằng này, khi thấy bác Miêu hít một hơi dài, cái bụng mới trương lên nhưng chưa kịp gồng, anh ta tưởng đã có thể ra tay nên mới giộng cái búa tạ xuống. Sau khi biết rõ nguyên nhân, anh này cứ ân hận mãi và khóc lóc thật nhiều. Không biết trước khi biểu diễn, hai người có tập dợt hay không mà để xảy ra chuyện đáng tiếc làm bác Miêu phải chết oan uổng như vậy.

Một cái chết nữa cũng thê thảm không kém, cái chết của anh Lời, Chuẩn úy TQLC. Hôm đó, khi đi lao động ngoài rẫy nên ở lại trưa. Không biết anh Lời lượm được ở đâu một trái lựu đạn. Anh nảy ra ý, đem ném xuống suối kiếm cá ăn. Không ngờ lúc nổ, anh bị một cái miểng văng trúng chỗ hiểm khiến anh chết liền tại chỗ. Tên cán bộ quản giáo là Lê Trung Cọng vì việc này mất chức đội trưởng và giáng cấp xuống Hạ sĩ thì phải.

Còn một cậu choai choai tội hình sự tên Ngọc, trên đường đi ra hiện trường lao động ngoài trại, rình lúc cán bộ dẫn giải không để ý bỏ chạy trốn. Không ngờ tên cán bộ quản giáo tên Ngọ nhìn thấy, rút súng bắn theo. Ngọc chết tại chỗ.

Đại khái thì đó là những cái chết của một số anh em tù trong Trại 1, nơi tôi ở. Tôi có nghe nói đến cái chết của 2 anh Nhơn và Giỏ ở Trại 4 nữa. Anh Nhơn bị bệnh chết. Còn anh Giỏ, hình như xuất thân Khóa 20 VBQGĐL, bị cây đè tắt thở khi đang cưa cây. Sau ngày đi tù cải tạo về, tôi mới biết gia đình anh Giỏ ở gần nhà vợ tôi. Chị Quý, vợ anh, có cho biết, chị cùng gia đình đã lên Trại 4 hốt cốt anh đem về chôn cất tại quê nhà rồi.

Ngoài ra tôi còn nghe các anh kể lại về cái chết của anh Trần Hữu Lực, một Đại úy Trinh sát SĐ1BB, khi còn công tác ngoài sông Mực. Anh Lực chết vì ăn thịt cóc trúng độc. Sau khi chết, anh được chôn ngay tại vùng rừng núi ở ngoài đó luôn. Cũng nghe nói, gia đình anh cũng đã ra tìm và đem hài cốt anh về chôn cất tại Huế từ lâu.

E. TRỐN TRẠI

Ngay khi chúng tôi mới vào Trại Ái Tử chừng một năm, nhiều anh em đã bắt đầu tổ chức trốn trại.

Vụ trốn trại đầu tiên xảy ra vào dịp Tết năm 1975, do anh Châu Đức Thảo, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng, cựu SVSQ khóa 19 VBQGĐL cầm đầu. Những người cùng trốn trại một lần với anh Thảo gồm có Anh Trần Văn Loan, Đại úy TQLC, anh Lê Văn Can, Đại úy và anh Hòa, Trung úy…

Sau khi gia đình lên thăm nuôi ngày mùng 1 Tết, anh Thảo đã mang bánh tét, mứt, kẹo… đến khối tôi gặp anh Gioan (anh em cột chèo với anh Thảo), để tổ chức ăn Tết với nhau. Ngay tại khối 2, lợi dụng bữa tiệc này, anh Thảo và một số bạn bè thân tín, bàn luận kế hoạch trốn trại.

Tối ngày mùng 1 rạng mùng 2 Tết, anh Thảo, Can, Loan và Hòa đã lặng lẽ trốn trại ra đi. Sau mấy ngày băng rừng vượt suối, các anh tới được biên giới Việt-Lào thì đồ ăn mang theo vừa cạn. Các anh lùng sục quanh vùng tìm bản làng dân thiểu số gần đó hy vọng có được thực phẩm. Không may các anh gặp bọn Thượng Lào Cộng nên cả bọn bị bắt và giao lại cho bộ đội biên giới của Việt Cộng. Chúng liên lạc và chuyển giao các anh về lại Trại 1 Ái Tử. Dĩ nhiên, về tới trại, các anh bị bọn vệ binh đánh đập, tra tấn, thừa sống thiếu chết, và bị bỏ nhốt dưới hầm tối một thời gian rất khốn khổ.

Hình như anh Hồ Văn Liệu, Thiếu tá cũng nằm trong nhóm trốn trại của anh Thảo nhưng không biết vì ngủ quên hay nhớ lộn giờ giấc; sau khi nhóm anh Thảo rời khỏi trại, anh Liệu mới xách ba-lô chạy theo. Chạy một hồi, anh Liệu không thấy bóng dáng bọn họ, chỉ có một mình, anh Liệu coi bộ không kham nổi, đành âm thầm quay về trại, lẻn vào lán. Cũng may không ai phát hiện.

Sau nhóm anh Thảo, còn có nhiều nhóm khác cũng tổ chức trốn trại. Tất cả còn đang trong vòng chuẩn bị thì bị theo dõi phát giác. Cuối cùng tất cả đều bị bắt. Khối tôi có 3 người: Anh Hồ Văn Chạnh, Đại úy TQLC, anh Trương Quang Hân, Đại úy BĐQ, anh Thọ, Đại úy. Những người ở các khối khác bị bắt cùng lượt có: anh Phù Hồng Văn, Thiếu tá LLĐB, anh Lê Tấn Ngọc, Đại úy TQLC, anh Phạm Ngọc Thức, Trung tá KQ, anh Trần Trọng Truồi, Đại úy.

Riêng nhóm anh Trần Biên, Đại úy và anh Phạm Cang, Thiếu tá TQLC, chỉ có mình anh Trần Biên bị bắt còn anh Cang chưa bị lộ nên không sao.

Anh Trần Trọng Truồi bị bắt nhưng sau đó lại được tha rất sớm khiến một số anh em phải đặt nghi vấn. Người lanh lẹ nhất phải nói là anh Trần Văn Trí, Đại úy Trinh sát SĐ1 BB, nhưng cũng bị bắt luôn.

Tất cả những anh trốn trại bị bắt lại đều bị bọn vệ binh đánh đập dã man, tàn ác. Nhiều anh chịu đòn không thấu, xỉu lên xỉu xuống, chúng vẫn không tha. Đặc biệt anh Trần Biên, Đại úy Truyền tin SĐ5BB, chúng đánh “hội đồng” bầm tím khắp người. Chịu nhiều đòn tra tấn như vậy, anh Biên cũng như anh Ngọc nhất định không hé răng khai nơi cất dấu cái địa bàn. Các anh vẫn còn nuôi ý định trốn trại sau này, nếu có dịp.

Sau những lần trốn trại thất bại này, anh em trong trại đã tỏ ý nghi ngờ anh Truồi. Có lần, chính anh Truồi móc nối anh Thức trốn trại. Khi cả hai bị bắt, chỉ có anh Thức bị bọn vệ binh đánh đập tra khảo tàn nhẫn suốt ngày đêm, còn anh Truồi được tha ngay sau đó và phè phỡn nhởn nhơ trong trại như không có gì xảy ra. Tin anh Truồi làm “ăng-ten” được lan ra khắp trại, cả 500 anh em đều biết. Vụ trốn trại của anh Truồi và anh Thức xảy ra sau, nhưng anh em liên tưởng lại vụ thất bại lần trước cũng có sự tham gia của anh Truồi.

Có lần tôi đi cuốc đất trong khu vực khung, nơi bọn cán bộ trại ở, gặp anh Biên sau khi được tha. Anh Biên kể cho tôi nghe, lúc bị bắt chung với anh Truồi, cùng ngồi trên xe giải về Đoàn 76 để thẩm vấn, dọc đường anh Truồi rút một con dao đưa ra trước mặt anh Biên và nói:

- Tao còn một con dao này, mày cất đi để khi hữu sự có cái mà dùng.

Vì nghi ngờ, anh Biên lặng thinh không thèm trả lời.

Nói chung, các vụ trốn trại vào những năm đầu 1975-1976 đều thất bại. Kết quả, các anh có tham dự, khi bị bắt đều lãnh hậu quả khốc liệt. Anh Hoàng On, sau khi ra khỏi nhà kỷ luật bị bại xụi. Chỉ sau một thời gian khá lâu, nhờ tập luyện sao đó, anh mới từ từ cử động được bình thường trở lại.

Chuyển về Trại Bình Điền, việc trốn trại xảy ra liên tục. Hầu hết là bọn “quái” thuộc diện hình sự. Vài tháng một lần vào ban đêm, chúng tôi lại nghe có tiếng súng nổ, kẻng báo động có người trốn trại. Mỗi lần như vậy, chúng tôi bị đánh thức dậy, ngồi ngay tại giường để mấy tên cán bộ vào điểm danh, bất kể 1, 2 hay 3 giờ sáng.

Những đêm sau đó, anh em tù được lệnh phải thay phiên nhau canh gác mỗi người một tiếng đồng hồ. Đội nào canh gác tại đội đó. Nếu có chuyện xảy ra, đúng ca anh nào gác mà không phát hiện và báo cáo kịp thời coi như lãnh đủ vì bị gán ghép là đồng lõa hoặc bao che! Thông thường việc trốn trại xảy ra vào ban đêm, nhưng đôi khi lợi dụng sơ hở của bọn cán bộ dẫn giải hay quản giáo, nhiều tên “quái” cũng liều mình bỏ trốn khi đang lao động bên ngoài.

Vào một sáng, đội tôi đang trồng bắp gần đội nhà ri (nơi tạm giữ những người mới được đưa vào trại hoặc những người bị “kỷ luật”, tất cả mái nhà hay tường đều lợp bằng những tấm ri sắt hoặc nhôm). Đội nhà ri hôm đó do tên quản giáo Điều phụ trách.

Vì trồng bắp nên công việc tương đối khá nhẹ nhàng và có nhiều thời gian rảnh rỗi. Lợi dụng những lúc đó, tôi thường liếc mắt nhìn về phía đội nhà ri đang lao động trước mặt. Tôi thấy hơi lạ khi tên cán bộ Điều cứ đưa ngón tay chỉ vào đám tù, đang làm việc gần đó, nhá lên nhá xuống như có ý đếm để kiểm tra nhân số. Có lẽ thấy thiếu người sao đó, nó rút còi thổi một hồi báo hiệu cho tập họp đám tù đang lao động lại rồi bắt ngồi cụm lại một chỗ. Sau đó nó móc súng bắn chỉ thiên lên trời mấy phát, báo động có người trốn trại.

Từ trong trại, tiếng kẻng dồn dập vang lên. Bọn công an bắt đầu túa ra chạy lại chỗ tên Điều đang đứng. Sau khi trao đổi vài câu gì đó, theo hướng nó chỉ trỏ, bọn công an, súng đạn cùng mình, nhắm khu rừng rậm gần đó chui vào lục soát. Một lúc sau, một tiếng súng nổ từ trong khu rừng rậm dội ra. Anh em ngoài này suy đoán: một là bọn công an đã phát hiện ra kẻ trốn trại và nổ súng uy hiếp, hai là chúng bắn hù dọa để kẻ trốn trại đang ẩn núp đâu đó sợ hãi và ló mặt ra. Tuy vậy anh em cũng hồi hộp theo dõi, bụng thì cầu mong cho kẻ trốn trại thoát được.

Gần 2 tiếng sau, một tên cán bộ từ trong khu rừng xuất hiện, dẫn theo sau một người trạc 50 tuổi và giải về trại. Đi ngang chỗ chúng tôi lao động, tên cán bộ cất cao tiếng chửi rủa như để nhân tiện dằn mặt đám tù tụi tôi:

- Tổ cha mi há, tổ cha mi há. Mi tưởng trốn trại dễ lắm há?

Sau này tôi mới biết người trốn trại tên Trần Thiện Khiêm, một công chức của chính phủ VNCH trước 1975, bị đưa vào trại vì tội vượt biên.

Sáng hôm đó, đội ri có tới 2 người trốn trại một lúc. Chỉ mới bắt được một mình anh Khiêm, người còn lại chưa tìm được thì chúng tôi có lệnh bỏ dở công tác lao động về trại. Do anh em đồn cho nhau, tôi mới biết người thứ hai là anh Trần Trung Chính, kỹ sư. Anh này cũng can tội vượt biển tìm tự do như anh Khiêm.

Anh Chính bị trúng một viên đạn xuyên qua lưng, cách xương sống chỉ vài ly, do tên công an lục soát gần đó nghe có tiếng sột soạt trong lùm cây nên bắn đại vào. Cũng còn may cho anh, viên đạn chỉ cần lệch một chút xíu vào xương sống, chắc anh khó toàn mạng. Khi bị trúng đạn, đau quá, anh la thành tiếng, bọn công an hô hoán và hè nhau túm lại lôi anh ra ngoài. Cả hai anh sau khi bị giải về trại đều bị chúng đánh đập dã man trước khi đem nhốt vào nhà kỷ luật mấy tháng trời.

Nam tù nhân trốn trại là chuyện thường xảy ra nhưng tù phái nữ cũng không phải là không có.

Khoảng năm 1981-1982, một số nữ phạm nhân tội hình sự được đưa lên trại nhốt chung với tù nam, giam trong một khu riêng. Chung quanh khu nữ, có một lớp hàng rào kẽm gai để cách ly, không cho nam nữ tù tiếp xúc, liên lạc. Lúc đầu chỉ có ít nữ phạm nhân can tội vượt biển. Sau này, những cô phạm tội hình sự như trộm cắp, tệ đoan xã hội mãi dâm, xì ke ma túy… cũng bị đưa vào nhốt chung. Trong số nữ phạm nhân hình sự này, có một cô tên Quỳnh Hoa, đã mở màn một cuộc vượt ngục thật gan dạ.

Qua lời một số anh kể lại, Quỳnh Hoa sinh quán tại Quảng Bình. Cô là một giáo viên dạy cấp 1 (tiểu học). Không hiểu vì lý do gì cô bỏ dạy đi vào Nam sinh sống. Có lẽ do hoàn cảnh xã hội, để kiếm sống, cô phải xoay sở đủ nghề. Làm nghề lương thiện không thể sống nổi nên cô ta phải liều nhắm mắt đưa chân. Tất nhiên, đi đêm có ngày gặp ma, cô đã có lần bị bắt và đưa vào một trại cải tạo nào đó trong Nam.

Hết hạn tù, cô được phóng thích cho về với gia đình. Trên đường về, tình cờ cô lượm được giấy tờ của một phóng viên nhà báo, trong đó có thẻ phóng viên và hình như phóng viên này làm cho nhật báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Việt Nam.

Thế là cô ta cầm thẻ phóng viên đó đi khắp các tỉnh. Mỗi lần công an hỏi giấy tờ, cô ta đưa thẻ phóng viên ra trình. Do đó cô ta không những không bị làm khó dễ mà còn được bọn công an cũng như mọi nhân viên trong các cơ quan nhà nước kiêng nể.

Khi vừa vào thị xã Huế, cô ta gặp một trạm công an trên đường phố chận xét giấy tờ, cô ta nhanh nhẹn móc thẻ phóng viên đưa ra. Bọn công an vừa thấy tấm thẻ phóng viên, không hỏi han gì cả và khoát tay ra dấu cho cô đi. Thấy cái thẻ phóng viên này có vẻ có uy lực, cô chợt nảy ra một ý định. Cô ghé thẳng vào Ty Công an Bình-Trị-Thiên, đưa tấm thẻ phóng viên báo chí, trình bày rằng cô đến Huế vì có nhiệm vụ viết một bài phóng sự về các lăng tẩm của các vua chúa dưới triều Nguyễn. Cô ngỏ ý xin được giúp đỡ phương tiện di chuyển để có thể đến tận nơi quan sát, hầu viết bài được chính xác và trung thực hơn.

Thấy cô ta ăn nói hoạt bát, hơn nữa lại là phóng viên của một tờ báo nhà nước, Ty Công an Bình-Trị-Thiên chấp thuận. Một chiếc “ô-tô con”, một tài xế và vài tên công an theo tháp tùng, chở cô “phóng viên” đi thăm các thắng cảnh trong khu lăng tẩm: nào là lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức v.v… Một ngày thăm lăng tẩm, đền đài trôi qua, về đến Ty Công an, sau khi cô “phóng viên” chào từ giã đi khỏi, một tên công an lượm được trên sàn xe chỗ cô ta ngồi một tờ giấy tạm tha do trại cải tạo trước đây cô ta từng bị đi “cải tạo”. Không hiểu tại sao cô ta lại sơ ý để rớt ra mà cô không hề hay biết. Ngày hôm sau, cô ta lại Ty thì bọn công an, vì nghi ngờ, giữ cô lại và làm bộ “lịch sự” xin phép cô “phóng viên” cho xem thêm giấy công tác lệnh. Làm sao cô có được! Chúng bèn truy tới, yêu cầu cô xuất trình giấy chứng minh nhân dân các thứ… Cuối cùng, với những cách tra hỏi đầy nghiệp vụ, bọn công an khám phá ngay ra sự thật, cô chỉ là một phóng viên “dỏm”. Cô bị tống vào Trại Bình Điền.

Kể như vậy để thấy cái gan của cô gái mang tên Quỳnh Hoa cũng thuộc vào loại khá lớn. Vào một đêm tối đen như mực, cô lặng lẽ bò qua 5 lớp hàng rào kẽm gai để trốn khỏi trại. Chắc cô ta phải quan sát và nghiên cứu kỹ lưỡng lắm trước khi hành động.

Ra khỏi những lớp hàng rào kẽm gai, cô ta bắt đầu đi. Trời tối đen như mực, cô đi đại vì đâu có biết hướng nào Đông, Tây, Nam, Bắc. Hơn nữa, cô ta không phải là dân địa phương và bị đưa vào Bình Điền lần đầu nên hoàn toàn xa lạ với cảnh vật, địa thế. Cho dù giữa ban ngày ban mặt đi nữa, chưa chắc cô ta có biết được hướng nào để đi ra quốc lộ chứ đừng nói là giữa đêm khuya không trăng sao! Cứ thế, sau vài giờ đồng hồ lần mò đi trong bóng đêm dày đặc, cô nghe có một giọng quát lanh lảnh từ trên cao, hình như từ một vọng canh gác, vang lên:

- Ai đó? Đứng lại.

Hết hồn, cô ta nhẩy lẹ vào một gốc cây sát đường. Tiếng quát lại lập lại:

- Ai? Sao không trả lời!

Liền tiếp theo, một tia sáng từ một chiếc đèn pin trên chòi canh rọi về phía cô gái đang núp. Không thấy được gì, người trên chòi canh bắt đầu trèo xuống đất, rọi chiếc đèn pin nhá nhá và tiến lại chỗ cô gái đang nép mình sau gốc cây. Vừa quơ cái đèn pin qua lại, những vệt sáng chạy lấp loáng trên mặt đường, người này vừa tiến sát lại cái gốc cây. Phát hiện cô gái đang run rẩy đang ép sát mình vào cái thân cây không bằng nửa bề ngang cô, tên này quát:

- Đứng yên không tôi bắn.

Không biết vì sợ hãi hay vì cái lạnh của ban đêm giữa vùng rừng núi, toàn thân người nữ tù run lên bần bật. Thì ra, suốt mấy tiếng đồng hồ, sau khi bò ra khỏi mấy lớp hàng rào Trại 1, cô phạm nhân này đi lạc sang đến phạm vi Trại 4, chỉ cách nhau chừng vài trăm thước và bị bắt lại!

Tất nhiên, dù là nữ phạm nhân, cô Hoa cũng không thoát cảnh hỏi cung tra tấn. Cô Hoa vẫn điềm nhiên trả lời:

- Tôi trốn trại là vì tôi không chấp nhận chế độ lao động nghiệt ngã. Trời sinh tôi ra để cầm viết chứ không phải để cầm cuốc!

Bọn công an cũng tống cô vào biệt giam một thời gian và bản án cải tạo của cô bị gia hạn dài hơn.

Đó là tất cả những vụ trốn trại xảy ra tại 2 Trại Ái Tử và Bình Điền, thời gian tôi đang ở đó. Còn một vụ trốn trại vô tiền khoáng hậu tại Bình Điền lúc tôi chưa chuyển về đây và tôi chỉ được nghe chính người tham gia kể lại về sau:

“Trại tập trung cải tạo Bình Điền 1 có đội 6 và tổ vệ sinh được sắp xếp lao động hàng ngày bên ngoài trại. Công việc của đội 6 là vào rừng đốn cây, xẻ gỗ. Đôi khi cần thiết thì chặt tre, bứt mây, sáng đi chiều về. Đầu đội trời, chân đạp đất, mỗi ngày di chuyển một quãng đường dài khoảng chừng 15 cây số, lúc leo dốc, lúc xuống vực, đi quanh co theo những con đường mòn, hai bên cây cối chằng chịt. Lại có khi phải thẩy gỗ xuống suối, người bơi theo đẩy, người trên bờ cột dây kéo! Dù đi theo kiểu nào, lộ trình cũng có những đoạn ngang qua vùng Kinh tế mới, nơi có những người dân bị Việt Cộng cưỡng bách đuổi ra khỏi thành phố Huế, o ép lên đây khai hoang lập ấp. Niềm an ủi của đội 6 là ở chỗ này. Tuy cực khổ thân xác, anh em còn có dịp tiếp xúc với đám dân này, nhìn thấy họ, hỏi thăm họ về tình hình cuộc sống xã hội bên ngoài

Về tổ vệ sinh do anh Nguyễn May làm tổ trưởng, cứ mỗi buổi sáng sau khi tù nhân ra ngoài lao động, tổ này vào trại quét dọn nhà vệ sinh và gánh phân đổ vào các hố để ủ làm phân bón cho các loại hoa màu. Xong xuôi, các tổ viên đi vào rừng chặt lá chuối rừng đem về lót rổ. Ngày tháng trôi qua, những công việc ấy cứ lập đi lập lại. Lợi dụng lúc vào rừng, khỏi tầm mắt của bọn công an, anh May thường hay lẻn vào nhà dân, giống như đội 6, để thăm dò tình hình.

Vào năm 1978, phối hợp nguồn tin nhận được từ 2 vùng Kinh tế mới tuy nằm cách xa nhau, một bên do anh May, một bên của đội 6, lại có sự trùng hợp: dưới thành phố Huế đã thành hình một tổ chức nhằm lật đổ chế độ Cộng sản. Nghe được tin này, những anh em bạn bè tâm đắc lên tinh thần tột đỉnh, mọi nhọc nhằn trong lao động hình như quên hẳn. Ai cũng nôn nóng và đặt vấn đề, trong trại giam, cần phải có ngay một tổ chức để sẵn sàng hành động khi tình thế cần đến. Kẹt một cái, tinh thần cộng tác của anh em không đồng đều, sự theo dõi, dòm ngó của bọn “ăng-ten” cũng là một yếu tố, thật khó khăn vô cùng.

Anh Nguyễn May và anh Hồ Minh Lữ cùng nhau bàn thảo và thành lập một nhóm, chủ trương vượt ngục để phối hợp với bên ngoài chiến đấu chống Cộng sản. Anh Lữ đề nghị anh May nên xác nhận về thực lực của nhóm bên ngoài trại cho thật tường tận, rõ ràng. Cần biết cụ thể các cơ sở nuôi dưỡng, che dấu lực lượng, tình trạng nhân số tham gia, số lượng vũ khí… Chuyện này đâu có dễ. Sau nhiều lần dò hỏi vẫn không có nguồn tin nào xác thực, đáng tin cậy. Trong khi đó, nội bộ đã có sự lủng củng bất đồng. Theo anh May, cần phải vượt thoát sớm. Anh tin là, sau khi thoát được vào rừng, sẽ có người giúp đỡ, bằng không lúc đầu anh em cũng có thể tự túc vừa canh tác, trồng trọt sống qua ngày để tồn tại và chiến đấu sau này. Về vấn đề vũ khí, anh May cho biết đã tình cờ khám phá được và đã cất dấu kỹ tại một địa điểm bí mật trong rừng độ 10 khấu M.16 với một số đạn dược còn nguyên trong thùng, một ít lựu đạn, 2 khẩu M72. Chuyện vũ khí thì anh Lữ không nghi ngờ, còn chuyện trốn vào rừng sâu và tự tổ chức canh tác để chiến đấu, anh Lữ cho là khó có thể thực hiện đơn độc mà không có lực lượng bên ngoài yểm trợ giúp đỡ.

Chính vì vậy, anh May không thuyết phục được anh Lữ theo vượt ngục. Sau nhiều lần thôi thúc, anh Lữ chỉ trả lời “Dục tốc bất đạt”. Ý anh muốn anh May phải tính toán cẩn thận để khỏi dấn thân vào nguy hiểm. Câu nói không mảy may có tác dụng với anh May. Anh thẳng thắn cho anh Lữ hay, anh dấn thân làm là chấp nhận nguy hiểm, không hề sợ hãi. Trong khi đó, ý anh Lữ chỉ muốn nhắn nhủ là nếu nôn nóng thì công việc chưa tới đâu đã thất bại, uổng phí tâm huyết mà thôi. Tuy không có cách nào khuyên nhủ cũng như không tham gia cuộc vượt ngục nhưng anh Lữ cảm thấy có trách nhiệm yểm trợ anh May bằng cách viết một bản tố cáo chế độ Cộng sản giam cầm, hành hạ và trả thù những cựu quân, cán, chính từng phục vụ cho chính quyền miền Nam để trong và ngoài nước thấy rõ đồng thời có hành động can thiệp, nhằm hỗ trợ tinh thần để anh May không cảm thấy lẻ loi.

Giờ giấc được chọn là 1 giờ khuya ngày chủ nhật, nghĩa là còn 3 buổi tối nữa. Địa điểm tập trung ngay cạnh hàng rào nằm cuối trại giam. Tốp người vượt ngục gồm có các anh: May, Minh Đức, Tuế, Lược và Minh (đội 6 có 2 người). Về bản tố cáo, anh Lữ định sẽ giao vào 8 giờ tối chủ nhật đó.

Buổi tối chủ nhật, tình hình đội 6 có sự thay đổi đột ngột. Toàn đội được lệnh ngồi sinh hoạt kiểm điểm công tác lao động trong tuần, phê bình, đấu tranh để giúp nhau tiến bộ trong tư tưởng, suy nghĩ và thái độ cải tạo… Vì buổi sinh hoạt kéo dài ngoài dự định, anh Lữ không thể trao đến tận tay anh May dù đã viết xong vào giờ phút chót.

Đúng giờ khởi sự vượt trại, chỉ có vài tiếng động nho nhỏ do việc phá rào rồi sau đó lại yên tĩnh trở lại. Toàn trại đắm chìm trong giấc ngủ. Một tiếng đồng hồ trôi qua, không có hiện tượng gì chứng tỏ toán đào thoát gặp trở ngại. Chính khi đó, trong gian lán đội 6 lại có chuyện xảy ra. Cái tên nằm sát cạnh chỗ anh Lược, rón rén bước xuống đất, khom lưng đi nhè nhẹ lại chỗ tên Lại Văn Đô, đội trưởng đội, một tên nổi tiếng “ăng-ten” vì đã nhiều lần báo cáo hãm hại anh em. Hai tên to nhỏ thì thầm trao đổi gì đó một lúc rồi tên Đô đứng dậy, thắp một ngọn đèn bão cầm theo đi ra phía vọng gác trước cổng trại.

Khi nó vừa trở về chỗ nằm thì từ hướng ban chỉ huy trại phát lên 3 tiếng súng nổ. Tiếp theo đó ít phút, tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng súng đạn khua lách cách, ánh đèn pin lóe sáng khắp nơi, bọn công an bắt đầu túa vào trại. Tất cả tù nhân trong trại bị dựng dậy làm thủ tục điểm danh. Đặc biệt đội 6 được chiếu cố kỹ càng nhất. Bọn công an lục lọi mọi ngóc ngách trong chỗ nằm của từng người, moi hết vật dụng trong tư trang cá nhân, nắn xét vất bừa bãi ra giường, xuống sàn nhà.

Ngay từ khi tên Đô ra khỏi lán, anh Lữ đã linh cảm thấy không ổn nên vội vã nhét mấy trang giấy của bản tố cáo vào miệng nhai ngồm ngoàm và nuốt vào bụng. Khi bọn công an vào tới nơi thì bản tố cáo đã được phi tang gọn ghẽ. Chỉ có điều, vì vội vã quá nên khi nhồi mấy tờ giấy vào miệng và nhai trệu trạo chưa kịp nát đã nuốt, cuống họng anh Lữ đã bị trầy trụa đến nỗi máu trong cuống họng anh chảy trào ra ngoài lẫn theo nước miếng.

Về sau tên Đô thuật lại rằng tối hốm đó, khi lấy tư trang đem theo, anh Lược lại cầm nhầm cái poncho của tên nằm bên cạnh. Đến khi lấy tấm poncho để đắp, nó ngửi thấy cái mùi khác lạ, nghĩ là minh lấy lộn tấm đắp của người khác nên vất sang một bên và mò tay tìm cái của mình. Mò sang chỗ anh Lược nằm, tên này phát giác chỗ nằm trống không. Tức tốc, nó nhổm dậy lẻn lại chỗ tên đội trưởng Đô báo cáo sự tình.

Bản nội quy trại sau vụ trốn tại tập thể này vốn đã khắt khe nay càng siết chặt hơn. Trại viên không được phép nhận các món ăn khô như các loại bánh, bột, đường. Thức ăn sau khi nhận, tất cả phải tập trung bỏ vào một gian nhà riêng biệt, không được ăn hàng ngày. Một tuần chỉ được phép mở cửa một lần để các trại viên vào nhận thức ăn của mình ra ăn. Cấm mọi việc đi lại từ lán này sang lán khác. Cấm tiếp xúc giữa hai người với nhau. Cấm nói chuyện riêng tư.

Lúc này bắt đầu xuất hiện thêm những tên hèn nhát, tự nguyện làm “ăng-ten” cho bọn công an, sẵn sàng bán rẻ danh dự, nhân cách bằng một củ sắn để hại anh em.

Một tháng trôi qua, hung tin đưa đến. Tên công an quản giáo Lê Văn Năm cho biết, toán vượt trại đã bị bắt lại. Cái tin làm cả trại bàng hoàng. Tiếc cho họ đã mất đi cơ hội ngàn vàng để có lại tự do, ngoài vòng cương tỏa, xót xa cho số phận của họ trong những ngày đen tối sắp tới. Sự trừng phạt, những đòn thù rồi đây sẽ giáng xuống thân thể, họ sẽ bị hành hạ như những con vật.

Phần toán vượt trại, về sau có người trong cuộc kể lại như thế này: Khi anh May dẫn cả toán ra khỏi trại giam rồi, vì không liên lạc được cơ sở từng hứa hẹn trước, anh chia toán ra hai tiểu tổ, ẩn núp dưới hai ống cống thoát nước giữa phi đạo dã chiến của căn cứ Birmingham (Bình Điền). Trú ở đây chưa được bao lâu lương thực mang theo đã hết. Không ai tiếp tế, anh em chia nhau đi mua thực phẩm đồng thời tìm cách bắt liên lạc thân nhân nhờ giúp đỡ. Nếu suy nghĩ kỹ, họ phải hiểu được, sau khi họ trốn trại, để truy lùng dấu vết, việc đầu tiên bọn công an làm là bám sát thân nhân gia đình họ. Tìm cách bắt liên lạc gia đình không khác lạy ông tôi ở bụi này. Quả nhiên, chỉ ít ngày theo dõi, một lực lượng công an vũ trang đã kéo đến tận nơi họ đang trốn tránh, bao vây. Thoạt đầu, chúng phát loa kêu gọi đầu hàng. Toán vượt ngục có vũ khí nên khai hỏa chiến đấu. Sau gần một giờ cầm cự, hai tên công an bị trọng thương, chúng tức giận dồn hết hỏa lực vào miệng cống chỗ anh May ẩn núp. Anh May ra lệnh cho các anh khác rút sang đầu miệng cống bên kia, tìm cách thoát đi để mình anh chịu lại, cầm chân bọn công an. Cuối cùng một trái B40 thụt lọt vào miệng cống, anh May tử thương tại trận. Anh đã chấp nhận hy sinh để đồng đội rút đi an toàn”.

Anh Nguyễn May, quê làng Đồng Di, xã Phú Hồ, quận Phú Thứ (nay là Phú Vang), tỉnh Thừa Thiên, là chiến sĩ Cảnh sát Quốc gia, tổ trưởng đặc nhiệm xã Phú Hồ. Anh có người anh ruột tên Nguyễn Gặp, nhiều nhiệm kỳ làm xã trưởng xã Phú Hồ. Cả hai anh em đồng tâm hiệp lực quyết tâm bảo vệ quê hương, nhiều lần vào sanh ra tử trong đường tơ kẽ tóc vì đụng độ Việt Cộng để giữ vững an ninh cho xã nhà, cho đồng bào an cư lạc nghiệp. Họ cũng là người có công phát hiện mồ chôn tập thể hàng trăm tử thi bị Cộng sản sát hại vào năm 1968 tại làng Đồng Di.

Năm 1975, sau khi Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, cả hai anh em đều có tên trong danh sách tội ác “Mỹ-Ngụy” và bị đưa ra xét xử trước tòa án nhân dân rồi đày đi tập trung cải tạo. Ông Nguyễn Gặp bị biệt giam tại nhà lao Thừa Phủ, mỗi lần bị gọi lên lấy cung, ông chỉ vỏn vẹn viết có một câu: “Tôi là Nguyễn Gặp” và cương quyết không nói một câu nào. Ông đã tuyệt thực và tuyệt ẩm rồi sau đó chết tại nhà lao Thừa Phủ.

Hai anh em ông xứng đáng được ghi danh vào trang sử của những người Quốc Gia sống cho lý tưởng, chính nghĩa, có chết cũng vì bảo vệ lý tưởng đó. Họ xứng đáng là biểu tượng cho các tầng lớp Quân, Cán, Chính miền Nam, thề quyết không đội trời chung với Cộng sản. Họ thà “chết đứng hơn sống quỳ”, tìm cách tự kết liễu cuộc đời chứ không khuất phục trước kẻ thù bạo tàn Cộng sản.

F. NHỮNG CÁI TẾT TRONG TÙ

Ở trong tù mà nói đến ngày Tế ai cũng buồn vời vợi. Hình ảnh khói hương nghi ngút trên bàn thờ với những đĩa cam, quít, bánh tét, bánh chưng tại quê nhà lại hiện về trong trí của anh em chúng tôi khiến ai nấy cảm thấy buồn da diết.

Cứ mỗi lần Têt đến, ban giám thị trại thường cho nghỉ ba ngày để ăn Tết. Vả lại đây là phong tục cổ truyền của dân tộc nên ban giám thị không thể nào không tổ chức ăn Tết vì sợ tù nhân uất ức sẽ làm loạn. Nói cho cùng, bọn chúng cũng muốn nghỉ ngơi vài ngày gọi là vui xuân. Bố thí cho tù chút đỉnh, còn được tiếng là nhân đạo, để khoe khoang với dân chúng bên ngoài cũng như rêu rao trước dư luận quốc tế.

Nhờ vậy, chúng cho phép tù nhân được gia đình lên thăm gặp trong hai ngày và được nhận quà cáp, đồ tiếp tế. Nhân ngày Tết, việc ăn uống cũng đỡ hơn ngày thường, dù chẳng hơn bao nhiêu. Nhưng thà có còn hơn không, vì quanh năm suốt tháng, chỉ toàn khoai sắn với rau muối, ăn đến chát, đắng cả miệng mà vẫn không đầy bao tử. Và nói cho cùng, những món bọn giám thị trại “ban phát” thêm ngoài tiêu chuẩn bình thường cho tù nhân cũng do chính bàn tay anh em tù làm nên. Từ hột gạo, ngọn rau, miếng thịt heo, trâu bò đều do đám tù cải tạo nai lưng quần quật, quanh năm suốt tháng, dưới sự “chỉ tay năm ngón anh minh” của đám cán bộ “ngồi không ăn bám”. Bây giờ chúng giở giọng đểu cáng tuyên bố (láo), nhà nước cách mạng quan tâm đến các “trại viên cải tạo”, nên ngày Tết cổ truyền của dân tộc cho các anh được hưởng tiêu chuẩn đặc biệt.

Cũng trong dịp Tết, ban giám thị trại cho phép anh em tù nhân được “quan hệ” với nhau để chúc Tết. Mặc dù như vậy, nhiều anh vẫn sợ đám “ăng-ten” theo dõi nên khi thăm gặp nhau họ vẫn ngại ngùng. Tất nhiên, sự “cởi mở” này không xuất phát từ lòng từ tâm của bọn giám thị trại, mà nó là một âm mưu để chúng nắm bắt được những mối liên lạc giữa đám tù với nhau, nhất là những thành phần chống đối, thông qua mạng lưới “ăng-ten” chúng cài đặt khắp trại. Suốt cả năm trời, anh em không được gặp nhau trò chuyện, thỉnh thoảng có đi ngang, cũng chỉ biết liếc mắt nhìn nhau, có muốn trao cho nhau nụ cười cũng phải kín đáo, ý nhị. Bây giờ có dịp, gặp gỡ công khai làm sao đè nén được cảm tình mà không trút hết, thố lộ tấm lòng. Có e dè tới đâu, có giữ gìn cách mấy, cũng có phút sơ hở. Bọn “ăng-ten” tha hồ “thâu băng” để sau này phát lại cho “quan thầy” cán bộ của chúng. Một số anh, dù biết là cái bẫy, họ vẫn không ngại. Họ đi hết lán này sang lán nọ. Chỗ tôi và anh Trần Văn Cát được anh em chiếu cố nhiều nhất. Chẳng qua, đầu năm, họ muốn nhờ chúng tôi xem một quẻ lấy hên. Hai chúng tôi đều có chút tài vặt về bói toán, tử vi nên những ngày này bổng lộc tấp tới bay đến. Sự thật của trong tù, có gì nhiều nhặn! Một hai miếng mứt, một khoanh bánh tét, ít hạt dưa, tách trà, ngụm cà phê, điếu thuốc đầu lọc (danh từ “cách mạng” gọi là thuốc cán!)… cái tình cảm thể hiện thật nhiều qua những món vật chất nhỏ nhoi đó.

Anh Trần Văn Cát biết rằng hành nghề tướng số trong trại là vi phạm nội quy nhưng anh không ngán, vẫn công khai bói bài, coi chỉ tay, xem chữ ký cho bất cứ ai đến nhờ. Kể cả người đến xem, họ cũng hiểu việc làm sai nội quy của họ, nhưng thấy anh nói hay quá không đè nén được sự tò mò. Có người về khen anh coi hay quá, có người bảo chỉ đúng 70% mà thôi, nhưng đa phần đều cho rằng anh Cát nói rất đúng. Thế là trong ba ngày Tết, anh Cát khá bận rộn. Năm nào cũng thế!

Phần tôi vì nằm kế bên anh Cát và cũng nhờ anh truyền cho ít nhiều kiến thức về môn tướng số nên cũng có một số “thân chủ”.

Thường trong mấy ngày Tết nhất, để giải trí và giết thời giờ, một số anh em bày ra chơi cờ tướng, đánh domino, có người chế ra bài mạt chược và khi cán bộ đi ngang thấy lạ hỏi họ trả lời là đánh cờ domino Trung quốc! Tôi lại không mê mấy món này thành thử lấy sách ra học. Nằm không, nghĩ đến gia đình, nghĩ đến ngày về xa tít diệu vợi, nghĩ đến thân phận tù đày chỉ muốn điên lên. Đọc sách là cách tôi làm để quên đi tất cả.

Trong suốt thời gian tù tội, lúc nào rảnh rỗi tôi học các môn sau đây: Âm nhạc, Đông y, Tướng số, và Anh văn. Hai môn sau tôi phải học một cách bí mật để tránh sự theo dõi của bọn “ăng-ten”. Hai môn Âm nhạc và Đông y, tôi học công khai. Những lúc rảnh, tôi mượn sách vở từ bạn bè về chép lại, nhất là môn Đông y và Châm cứu. Tôi quyết chí nghiên cứu, học hỏi để sau này “hạ sơn”, sẽ học thêm để có thể hành nghề. Vì vậy bây giờ tôi phải nắm vững phần lý thuyết trước đã. Những quy luật căn bản trong học thuyết âm dương ngũ hành, những bài học về tạng phủ, kinh lạc hay chẩn đoán học, tám phương pháp dùng thuốc uống gồm: hàn, thổ, hạ, hòa, ôn, thanh, tiêu, bổ; tôi đều nghiên cứu rất kỹ. Về môn Châm cứu, tôi đã đọc rất cẩn thận về phép bổ, tả; học thuộc lòng hàng trăm huyệt đạo trên cơ thể con người và học luôn những phương pháp chữa bệnh thông qua huyệt đạo. Tôi học liên tục như thế suốt 7 năm và sau khi về nhà tôi tìm đến Đại Đức Thích Tuệ Tâm ở chùa Huyền Không xin thụ giáo, nhờ thầy chỉ điểm thêm và xin được phụ với thầy hành nghề tại phòng mạch của thầy luôn.

Phòng mạch của sư Tuệ Tâm lúc đó được mở một bên chùa Diệu Đế. Đến khi qua Mỹ, mấy người bạn bảo tôi nếu muốn tiếp tục theo đuổi nghề này, phải học thêm 4, 5 năm rồi thi lấy bằng do tiểu bang Cali cấp mới được phép hành nghề. Tuổi đã lớn, tâm trí còn chưa phục hồi sau những năm tháng trong ngục tù Cộng sản, gia đình cũng cần có điều kiện kinh tế tối thiểu để sinh sống trên đất nước tạm dung này nên tôi đành từ giã mộng hành nghề Đông y trên đất Mỹ.

Trở lại chuyện ngày Tết trong tù, dù biết là cái bẫy do bọn cai tù bày ra, anh em tù nhân đa số vẫn không sợ. Đây là cơ hội một năm mới có một lần để anh em gặp gỡ, trao đổi tin tức, tìm hiểu tình hình bên ngoài, đề ra những kế hoạch hành động, bàn luận những phương thức đấu tranh trong tương lai… để chống lại sự đối xử khắc nghiệt của bọn công an cai ngục.

Tất cả anh em trong trại đều là những sĩ quan của QL/ VNCH nên anh em rất đoàn kết. Chỉ một thiểu số, tham sống sợ chết, thèm chút quyền lợi vật chất nhỏ nhoi trước mắt, đánh mất lương tri, bán rẻ bạn bè, đang tâm làm tay sai cho bọn cai ngục… Trong một tập thể, điều này khó có thể tránh khỏi.

Thực tế đã chứng minh, tinh thần anh em sĩ quan của chế độ VNCH là kiên cường bất khuất. Những vụ nổi loạn trong tù, những lần vượt trại tập thể hay cá nhân, những chống đối ngấm ngầm hoặc công khai thường xuyên xảy ra khắp các trại tù cải tạo trên mọi miền đất nước, đã hùng hồn nói lên điều đó. Nhiều anh, bị chúng trù dập, tra tấn đánh đập dã man vẫn không hề khuất phục. Có anh bị đem ra xử bắn vẫn hiên ngang, trước khi chết còn hô to: Đả đảo Cộng sản!

G. NHẠC VÀNG VÀ NHẠC ĐỔI LỜI

Âm nhạc là một phần trong cuộc sống con người, giúp con người thăng hoa. Trong trại tù cải tạo cũng vậy, âm nhạc cũng là một phần sinh hoạt bên lề của cuộc sống những người tù cải tạo.

Những ngày đầu tiên khi bị đưa vào trại tù cải tạo, chúng tôi đã được giáo điều rằng nền âm nhạc của miền Nam trước đây là âm nhạc đồi trụy, ủy mị… không được phép hát, tàng trữ, phổ biến dưới bất cứ hình thức nào. Thay vào đó, hàng ngày chúng cho phát thanh những bản nhạc “cách mạng” mà thoạt nghe chúng tôi cứ vểnh hai cái lỗ tai vẫn không hiểu ca sĩ hát cái gì. Âm điệu thì giống hệt nhạc Tàu Cộng, tiếng ca thì như thét vào màng nhĩ. Đến cái giai đoạn chúng bắt đám tù chúng tôi tập ca những bài nhạc này, chúng tôi mới nhìn được lời của bản nhạc, khi đó mới quen lỗ tai.

Nhưng đó là vì chúng tôi đang trong thế chẳng đặng đừng. Bọn cai ngục bảo ca thì ca chứ có thích thú gì đâu. Nghe nhạc mà cứ như bị đấm vào lỗ tai thì làm sao mà rung cảm!

1. Nhạc Vàng

Những bản nhạc trữ tình, nhạc tiền chiến một thời… nói chung là nhạc mà miền Nam trước đây phổ biến bọn Việt Cộng gọi là “nhạc vàng”. Loại nhạc này chúng cấm chúng tôi không được ca hát, truyền bá trong trại. Chúng đánh giá âm nhạc của miền Nam là sản phẩm của nền văn hóa tiểu tư sản, mọi sáng tác có mục đich ru ngủ lòng người, chỉ nhằm phục vụ cho giai cấp tiểu tư sản, ngồi mát ăn bát vàng.

Vừa đặt chân vào Trại 2, căn cứ Ái Tử, một tên cán bộ bộ đội đã chỉ trích:

- Các anh ở miền Nam hay hát những bản nhạc quá buồn bã. Mùa thu đã buồn rồi mà nhạc sĩ còn nhét vào bản nhạc những lá vàng rơi, mưa bay… nghe thảm sầu làm sao. Nhạc là phải mang tính chiến đấu, hùng tráng chứ không ủy mị, ru lòng người như vậy!

Với sự hiểu biết nông cạn, quan niệm một chiều về âm nhạc như vậy thì còn gì để tranh cãi. Nói cho cùng, bao nhiêu năm ở miền Bắc chúng có bao giờ được nghe một bản nhạc nào ra hồn. Nhạc chúng sáng tác là để phục vụ chiến tranh xâm lược miển Nam, hô hào thanh niên ôm súng chống đế quốc Mỹ, chống Ngụy…

Mặc dù biết bị cấm nhưng đôi khi quen miệng lại hát nghêu ngao. Lúc đầu bọn cán bộ quân quản còn chưa quen việc coi tù, không kiểm soát chặt chẽ nên những khi vắng vẻ hay lúc rảnh rỗi, anh em cùng tâm trạng thường tụ tập lại, đàn hát cho nhau nghe những bản nhạc trữ tình ngày nào để nhớ lại kỷ niệm một thời không còn nữa. Về sau, nhiều anh làm quá lộ liễu chúng biết được nên kiểm soát gắt gao. Tình trạng này không còn nữa. Đôi lúc có anh buột miệng vài câu, giật mình nhớ lại bị “cấm” nên tịt luôn và còn dáo dác nhìn quanh xem có tên “ăng-ten” nào gần đó nghe được hay không.
Cứ như thế, lâu ngày thành quen nên chẳng ai hát nhạc vàng nữa.

Chỉ khi nổi ra vụ nổi loạn 20 tháng 4 sau này khi về Bình Điền là trường hợp đặc biệt vì đó là chủ trương của nhóm hành động, anh em tụ tập ca hát công khai, không những hát nhạc vàng, thánh ca mà còn hát cả nhạc hùng, quốc ca VNCH nữa.

Riêng tôi, lâu quá không được nghe “nhạc vàng”, nhiều khi rất “thèm”. Nhớ lại những bản nhạc trữ tình thời tiền chiến, những ca khúc đầy sắc thái yêu đương lãng mạn trước 1975, tôi muốn hát nhưng không dám. Chỉ đành chờ những khi đi gánh củi hay bứt tranh trong rừng, một mình chui vào chỗ vắng, tôi mới hát một hơi luôn mấy bản cho đã thèm. Một số bản nhạc trước đây bị chê là quê mùa hay nhạc “sến”, tình cờ nghe được ai ca, tôi lại thấy rất hay, tưởng chừng như đó là những tác phẩm bất hủ của Mozart hay Schubert vậy.

Sau khi chuyển về Trại Bình Điền, dưới sự quản lý của bọn công an, vấn đề kiểm soát nhạc vàng lại càng gắt gao hơn. Vài anh lỡ miệng nghêu ngao một hai câu thôi đã bị “ăng-ten” chụp cơ hội báo cáo ngay. Anh Nguyễn Hữu Ái khối tôi, có lần hát một câu, tôi còn nhớ mang máng: “Một nửa ba năm anh hay tình nở dậy quân nhân (?)”. Vừa thốt ra xong, anh giật mình biết mình lỡ dại hát nhạc vàng, bèn tiếp lời giải thích để đánh lạc hướng:

- Thưa quý vị đó là 365 ngày, 6 tháng và ¼ ngày.

Ý anh muốn trình bày: nửa cái ba năm là một năm rưỡi công thêm ¼ ngày, để mọi người không để ý đến khúc sau đó. Cử chỉ và điệu bộ của anh Ái làm mọi người phải ôm bụng cười, dù có tên “ăng-ten” nào ở đó cũng phải cười theo.

Cũng tại khối tôi, một anh sau khi quẹt diêm đốt thuốc hút, sơ ý vất que diêm xuống đất gần vách nhà. Vách nhà là lớp tranh nẹp bằng tre dựng quanh lán bắt lửa, khói xông lên. Người bạn đứng kế bên hoảng sợ la to: “cháy, cháy”. Anh ta phần sợ cháy nhà, phần sợ cán bộ nghe thấy, nhào lại đập vào vách tranh để dập tắt lửa cho khói khỏi lan ra. Vừa đập, anh vừa hát, tiếp theo hai tiếng “cháy, cháy” mà người bạn bên cạnh vừa la lên:
- … Cháy, trong lòng ta, tiếng bác Hồ thiết tha, như tiếng quê nhà…

Cũng còn may, lửa chỉ vừa mới bén vào vách nên dập tắt kịp, khói cũng chưa bao nhiêu. Anh em những lán gần đó không thấy, chỉ nghe tiếng hát nên chả ai chú tâm.

Tại Bình Điền, bọn cán bộ luôn hăm dọa, nhiều khi còn đánh đập tàn bạo những người hát nhạc vàng. Có một lần, khoảng 7 giờ tối, đang nằm nghỉ trong lán, tôi nghe tiếng nói của một tên cán bộ đang chủ trì một buổi họp ở nhà ri bên cạnh. Sau đó tôi lại nghe có tiếng đấm đá liên tiếp mấy phút mới ngưng. Rồi giọng tên cán bộ oang oang, vang sang:

- Mày chừa hát nhạc vàng chưa, hả?

Có tiếng trả lời:

- Dạ, thưa cán bộ chừa rồi.

Tò mò, hôm sau tôi hỏi cậu Nguyễn Đăng Tiến, một cậu tù hình sự, nằm cạnh tôi:

- Tối qua, cán bộ nào đánh ai vậy?

Tiến trả lời:

- Ủa! Chú chưa biết hả? Cán bộ Lộc đó, ổng đá một thằng “quái” vì nó hát bài “một trăm phần trăm”.

Chiều hôm đó, khi đang sửa cuốc ở nhà kho, tôi lại nghe phía bên ngoài có ai hát một câu nhạc vàng của tác giả Dũng Chinh: “Một chiều mưa rừng, được tin em gái mất, chiếc thuyền như vỡ đôi”. Tôi giật mình, ngóc đầu nhìn qua cửa sổ xem ai cả gan dám hát nhạc vàng một cách công khai như vậy. Té ra lại là tên cán bộ Lộc! Chính nó vừa mới đấm đá tên quái đêm qua vì cái tội dám hát nhạc vàng. Thì ra cấm là cấm bọn tù cải tạo thôi chứ đâu có cấm cán bộ!

- Tiên sư chúng mày!

Tôi buột miệng chửi thề nho nhỏ trong miệng. Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng đúng, tôi nghĩ bụng.

Mấy hôm sau, đang ngồi rút lại cái quai của đôi dép cao su bên bụi chuối, tôi lại nghe một giọng hát: “Tôi xa Hà Nội năm lên mười sáu khi vừa biết yêu. Bao nhiêu mộng đẹp, bao nhiêu…”. Lấy làm lạ, ngẩng đầu về hướng phát ra tiếng hát, tôi thấy tên cán bộ Tư miệng đang lép nhép. Lại một lần nữa không nhịn được, tôi cất tiếng chửi thề: “Tiên sư cha…”.

Ngoài mặt, chúng ngoạc mồm chửi rủa, la lối, cấm tù không được hát nhạc vàng nhưng trong bụng, tên nào cũng khoái nhạc vàng còn hơn ai hết. Nhiều tên còn mở đài BBC, VOA nghe trộm nhạc vàng, còn khen rối rít. Ngay cả tên Xá, cán bộ quản giáo đội tôi, nghe ở đâu được giọng hát Mai Lệ Huyền rất thích thú, qua hôm sau nó hỏi anh em Mai Lệ Huyền là ca sĩ như thế nào?

Với tù nhân, chỉ cần mở miệng hát nhạc vàng mà bị bắt gặp hay có người báo cáo là vi phạm nội quy, là bị kiểm điểm v.v…

Có lần anh Trần Văn Cát, mượn của một người bạn cây đàn guitare, chêm lại mấy cái phím cao lên đổi thành Hạ uy cầm và chơi bài “Ai về sông Tương”. Tối thứ sáu hàng tuần, họp tổng kết, anh Phan Hữu Hiệt, ngành Cảnh sát, đội trưởng dõng dạc tuyên bố: người nào đã đàn bản nhạc vàng vào ngày N, giờ G phải tự “liên hệ bản thân” để nhận ra khuyết điểm và rút kinh ngiệm không được tái phạm.

Anh ta bảo:

- Tôi đã nói, bụi tre có lỗ tai nghe. Anh em phải cẩn thận. Chính cán bộ cho tôi biết, đội ta có người đàn nhạc vàng.

Sau buổi họp, anh Cát nói với tôi:

- Ông nội nó, chính nó báo cáo lên cán bộ mà bây giờ nó lại đổ cho cán bộ cho nó biết!

Không biết nên giải thích cái hiện tượng “buột miệng hát một câu nhạc vàng” như thế nào nữa. Nó không phải là một phản xạ có điều kiện, cũng phải là một thói quen. Đơn giản, nó giống như bản năng tự nhiên của con người, đói ăn, khát uống. Một con người, sống trong một môi trường xã hội, hấp thụ nền văn hóa của xã hội đó mấy chục năm trời, thì tư tưởng, suy nghĩ trong đầu óc, làm sao thoát ra khỏi cái suy tư chung của xã hội đó được. Buột miệng hát một câu nhạc vàng là chuyện tất nhiên không thể tránh được đối với người tù cải tạo. Nhưng chuyện này lại là điều cấm kỵ trong tù. Do đó, anh em phải khổ sở vì nó rất nhiều. Chỉ cần sơ sẩy, vô tình là bị rắc rối ngay.

Một lần, ngồi trên một tấm ri bắc ngang qua giòng suối, vừa giặt cái khăn, vừa hát thử một bản nhạc tôi mới sáng tác xem như thế nào. Khi hát tới câu: “Chiều nay, một mình ngồi trên đồi vắng, nhìn đàn chim về trong nắng mà lòng buồn vời vợi”, thì có tiếng động trước mặt. Giật mình quay lại, trước mặt tôi, một tên công an áo vàng đang lù lù đi tới, chỉ còn cách tôi chừng hai thước. Nhìn nó không quen mặt, chắc là cán bộ trại khác, tôi đoán. Không biết nó có nghe thấy tôi hát không nữa. Mặc kệ, tôi đếch sợ, tôi tự nhủ. Tuy nhiên, tôi vẫn phải đứng dậy, tránh sang một bên cho nó đi qua và mở miệng chào một tiếng cho có lệ. Có lần không chào tôi đã bị một tên cán bộ hoạnh họe bắt bẻ, la lối om xòm. Tôi còn nhớ, lần đó ra ngoài rẫy lao động, chúng tôi sắp hàng một, người này nối tiếp người kia đi. Bỗng đâu một tên mang quân hàm Trung úy từ hướng đối diện đi tới. Khi đó bác Khiêm, cựu Trung tá đi trước, kế là tôi, sau đến anh Đính, Đại úy. Thình lình tên cán bộ này nhẩy lại bên tôi chận lại, sừng sộ la:

- Sao thấy tao mày không chào hả?

Ngạc nhiên, tôi đứng sững không nói được lời nào. Cả một hàng người dài đang đi, có ai mở miệng chào đâu! Tôi lại không phải là người đi đầu, hoặc giả mấy người phía trên có chào mà tôi không nghe thấy chăng? Nhưng tại sao nó nhắm đúng ngay tôi chận lại “cảnh cáo”, mà không phải là bác Khiêm hay anh Đính? Thật là xui xẻo. Phải chăng tôi xuất hành ra khỏi cổng trại đúng vào giờ tứ ly. La lối vài câu xong nó bỏ đi, còn không quên kèm theo vài lời hăm dọa. Đợi nó đi một quãng khá xa, anh Đính khều tôi nói đùa:

- Sao Điền không nẹt lại nó, mày chào tao mới phải. Tao Đại úy, mày mới có Trung úy!

Một lần khác, trời mưa rất lớn, tôi dắt con trâu, tên Pháo, lên đồi tranh cho ăn cỏ. Trên đường, tự dưng nổi hứng, tôi hát bản “Tiến về Đông Dương” mà tôi vừa sáng tác xong. Vừa hát tới đoạn: “Hỡi nhân dân thế giới tự do, hãy cứu vớt nhân dân Việt Nam! Hỡi nhân dân thế giới tự do…”, tôi nghe có tiếng sột soạt sau lưng. Quay lại nhìn, tôi giật bắn người, cây roi quất trâu suýt rớt khỏi tay. Thì ra tên Thượng úy Hải đi sau tôi từ hồi nào, chỉ cách tôi độ hai thước mà tôi không hề hay biết. Phản ứng tự nhiên, tôi cất tiếng:

- Cán bộ làm tôi giật mình.

Tên Hải vừa cười vừa nói:

- Giật mình hả?

Rồi nó bỏ đi luôn. Thật hú vía, hồn bay phách lạc! Cũng may mà trời mưa to nên có lẽ tiếng hát của tôi bị âm thanh của tiếng mưa rơi át bớt nên nó nghe không rõ. Bằng không, với những lời lẽ trong câu hát, dù có dốt đặc cán mai như trình độ tên cán bộ Hải này, nó cũng hiểu được và tôi không thể thoát cảnh vào nhà kỷ luật.

Điều nghịch lý trong việc cấm đoán nhạc vàng trong trại tù cải tạo ở chỗ, tù thì không nhưng cán bộ thì được. Được đây không có nghĩa là công khai. Bọn cán bộ có thích, cũng phải lén lút, dấu diếm chứ không được lộ liễu. Chúng cũng dòm ngó lẫn nhau, cũng sợ bị phê bình kiểm thảo là mất lập trường, tư tưởng thoái hóa, biến chất ảnh hưởng đến tương lai!

Bây giờ, tình hình đã thay đổi rất nhiều. Cả nước nghe và hát nhạc vàng! Những tệ nạn xã hội sau khi chúng cưỡng chiếm miền Nam, hồi đó Việt Cộng đổ thừa do tàn dư “Mỹ Ngụy” để lại, nay còn tăng gấp trăm, nghìn lần, mặc dù Mỹ đã “cút”, “Ngụy” đã nhào từ lâu! Phải chăng đây là dấu hiệu chế độ Cộng sản thay đổi tư duy?

Chắc chắn là không! Giống như tình trạng trong các trại tù cải tạo một thời. Bọn giám thị trại, sợ ép quá tù nhân nổi loạn nên lâu lâu làm bộ nới lỏng sự kềm kẹp một chút. Bọn lãnh đạo chóp bu Bắc Bộ Phủ bây giờ cũng vậy. Chúng hưởng quá nhiều đặc quyền đặc lợi, vơ vét làm giàu nhờ bóc lột sức lao động của nhân dân cả nước. Để giảm thiểu sự bất mãn đưa đến nổi dậy của toàn dân, để củng cố địa vị lãnh đạo vững bền, chúng đưa ra một ít cải cách vô hại, nhằm ru ngủ người dân.

Đó là nguyên nhân đưa đến tình trạng xã hội suy đồi tại Việt Nam ngày nay vậy.

2. Nhạc đổi lời

Đây là những bản nhạc của Việt Cộng, chúng gọi là nhạc “cách mạng”, mà anh em trong tù đổi lời lại, hầu như trại nào cũng có. Ở Trại 1 Ái Tử, anh em đã đổi lời rất nhiều bài.

Nguyên nhân thật đơn giản. Bọn cán bộ bắt chúng tôi phải hát nhạc “cách mạng”, chúng tôi, cá nằm trên thớt, phải làm theo, nhưng trong thâm tâm thì dị ứng, không chút thích thú nếu không muốn nói là bất mãn. Đổi lời là một biểu hiện của sự bất mãn, một hình thức chống đối không ra mặt. Chẳng hạn như bài “Đường 9 anh hùng”, trong đó có câu: “Đường 9 (số 9), ôi đường 9, đã bao lần ghé bến sông Gianh”. Anh em đổi thành: “Đường chín, đậu chưa chín,…”. Hay trong bài “Trồng cây nhớ bác”, một anh đã đổi cái câu: “Nhớ bác Hồ trồng cây năm xưa” thành: “Nhớ bác Hồ thèm ăn lương khô” nên đã bị kêu lên kêu xuống tra hỏi nhiều lần. Hoặc trong bài “Hà Nội, niềm tin yêu và hy vọng” có câu: “Ôi Đông Đô, hùng thiêng dấu chân còn in nơi đây” bị sửa lại: “Ai đông nô (I don’t know), Hồ Seo ứ ư Hồ Seo (tên một anh xã trưởng cùng “cải tạo” trong trại)…”. Còn bài “Như có bác Hồ” có câu: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng, lời bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”, anh em đổi lại: “Ai có thuốc lào cho mình xin một điếu, rồi sáng mai trả thành ba điếu như thường”.

Còn nhiều nhiều nữa, nhưng đến đây tạm đủ vì không đủ giấy mực nếu viết ra hết.

H. GIA ĐÌNH

Kể từ lúc bước chân vào trại tù cải tạo, tôi nghĩ rằng thật khó mà biết được ngày trở lại quê nhà. Lúc đó có người bảo chỉ “học” có 6 tháng, nhiều người lại nói đến 3 năm, một số khác dự đoán “mút mùa lệ thủy”!

Gia đình tôi có 3 anh em đều là sĩ quan QL/VNCH và đều bị đưa vào trại tù cải tạo. Khi chúng tôi ra đi, gia đình cha mẹ chúng tôi vẫn còn ở Đà Nẵng.

Anh cả tôi, “học tập” ở Quảng Nam, em tôi bị đưa ra Bắc. Ba anh em lớn đi tù, cha mẹ chúng tôi không biết nương tựa vào đâu vì các em tôi ở với họ đều còn nhỏ. Để kiếm sống, Ba tôi phải theo dân xứ Quảng lên vùng đất Bà Nà để làm rẫy, cuốc đất trồng khoai, sắn sống qua ngày. Tuổi đã già, sức lại yếu, phải sống ở vùng núi non hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt lạnh lẽo, ăn uống thiếu thốn, nhiều khi Ba tôi ngất xỉu ngoài rẫy dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời khi đang cuốc đất. Cũng nhờ trời, ba tôi tai qua nạn khỏi. Sau mấy năm trời, nương nhờ mấy rẫy sắn khoai sống qua ngày, Ba tôi yếu dần, sức khỏe lúc càng sa sút. Ba mẹ tôi vẫn cố gắng tiếp tục sống, mỏi mắt hy vọng ngày các con trở về xum họp, nhưng vẫn biệt vô âm tín.

Thoạt đầu khi mới lên khu rừng núi âm u này, ba tôi đã phấn đấu tàn lực tuổi già phá rừng làm rẫy cũng được khoảng chừng một mẫu đất để trồng khoai sắn, nuôi đàn em tôi còn nhỏ dại sống lay lắt qua ngày. Với số đất khai hoang này, Ba tôi hy vọng, đến lúc anh em chúng tôi được thả về có thể xúm vào cùng nhau canh tác, gầy dựng lại cuộc sống. Bao nhiêu công sức, bao nhiêu mồ hôi lẫn nước mắt, Ba tôi đã đổ ra vào lúc xế chiều của cuộc đời ông, mới tạo được chút cơ ngơi này.

Đợi hoài, đợi mãi vẫn không thấy đứa con nào trở về, buồn bã Ba tôi làm một bài thơ, tựa đề như sau:

NHỚ CON “HỌC TẬP” CHƯA VỀ

Năm năm nằm ngủ trên rừng
Nửa đêm tỉnh dậy tưởng chừng ba trăng
Con đi “học tập” ba thằng
Năm năm chưa thấy nói năng chưa về
Cha con xa cách ê chề
Uống ăn chẳng có miếng gì cao lương
Làm ăn nếm mật nằm sương
Khoai sâu, sắn xẩm trời thương tôi mà
Ăn toàn những dưa với cà
Vài lon ruốc mắm cho qua tháng ngày
Việc nhà phó mặc mẹ mày
Vách nát mái dột ngày ngày hư hao
Đêm nào cũng đứng nhìn sao
Để biết giờ giấc chiêm bao dậy liền
Đêm nằm nghĩ lại cũng phiền
Giấy đi quá phép xã liền hỏi luôn
Nghĩ đời nước mắt lại tuôn
Cha con đôi ngã luôn luôn nhớ hoài
Đứa thôn Đông, đứa thôn Đoài
Bao giờ mới được ra ngoài chốn lao
Chẳng qua số phận lao đao
Mỗi người một ngã biết sao bây giờ
Ngày ngày ngong ngóng đợi chờ
Con đi “học tập” bao giờ cho xong
Trong lòng tơ rối bòng bong
Nghĩ mà chán ngắt chẳng hòng nói chi
Con cháu muốn xin việc gì
Lý lịch thời “ngụy” coi thì không xong
Tương lai thì chẳng trông mong
Học hành cao lớn chẳng hòng được đâu
Những điều trông thấy mà đau…

(Còn tiếp)



       



Xoá hình nền                                                       Tăng độ chữ

Đăng Bài Mới    Góp Ý Kiến   
phpBB - Creating Communities
Vista theme by HelterSkelter © 2007 ForumImages
Vista images © 2007 Microsoft