Trại Ái Tử và Bình Điền (Tiếp theo)

CHƯƠNG 8

Ban giám thị
và bọn cán bộ trại


Lúc mới vào Trại 1 ở Ái Tử thuộc tỉnh Quảng Trị, chúng tôi chưa quen gọi ban chỉ huy trại là ban giám thị. Từ ngữ “ban giám thị” chỉ được gọi thường xuyên khi bước chân vào Trại Bình Điền sau này mà thôi.

Tại Trại Ái Tử, tất cả những tên cán bộ trong ban giám thị đều là bộ đội. Trưởng trại, một tên Thượng úy người Bắc, tên Thơm. Khuôn mặt nó lúc nào cũng lộ vẻ mặt đằng đằng sát khí. Mỗi lần vào trại, đi qua các lán, đội, nó thường chắp tay sau đít, mặt hầm hầm như muốn ăn tươi nuốt sống đám tù nhân. Chỉ một vài điểm không vừa ý là nó giận dữ la hét om xòm. Đúng là tác phong của một tên cai ngục.

Phụ tá cho nó, một cán bộ tên Xê (C). Lúc đó chúng tôi nghĩ như vậy, vì theo quan niệm tổ chức trong quân đội của ta trước đây, chỉ có đơn vị trưởng là lớn nhất. Tên này giữ chức vụ Chính ủy trại, nên nó có vẻ tâm lý và ăn nói nhã nhặn hơn. Sau khi sống lâu trong tù, tìm hiểu về cách tổ chức của bọn Việt Cộng, chúng tôi mới biết được vai trò quan trọng của một chính ủy trong đơn vị. Chính tên này mới nắm quyền quyết định tối hậu sau cùng. Hèn gì, khi phân loại chúng tôi, bọn Việt Cộng đã liệt các sĩ quan CTCT vào loại “ác ôn” ngang với An ninh tình báo, Lực lượng đặc biệt, Nhẩy dù, TQLC… là những lực lượng đã gây cho chúng rất nhiều thiệt hại!

Ngoài ra, có khoảng trên dưới 20 người nằm trong bộ chỉ huy của trại. Hàng ngày, trong sinh hoạt chúng ít khi mang cấp bậc trên cổ áo. Những tên trực tiếp trách nhiệm từng khối, đội được gọi là cán bộ quản giáo. Đám bộ đội canh gác trại hoặc dẫn giải tù nhân đi lao động được gọi là vệ binh. Tuy chúng không thường xuyên mang cấp bậc, nhưng lâu ngày qua tiết lộ của vài tên vệ binh, chúng tôi cũng rõ.

Cái đám vệ binh là đông nhất. Lúc chúng tôi mới vào trại, bọn này thường lân la tới từng lán hỏi mua đồng hồ, bán quần áo… Có tên còn gạ gởi tiền ra ngoài mua những món linh tinh nào đó để kiếm chác chút đỉnh. Sau khi có vài vụ trốn trại xảy ra, không thấy bọn này vào lán chúng tôi nữa. Có lẽ một phần chúng phải tra tấn những người trốn trại và một phần chắc do bọn cấp trên ra lệnh cấm không cho tiếp xúc với tù nhân.

Ban giám thị có một cán bộ tên Bé, khoảng 26 tuổi. Hình như tên này phụ trách về thể thao và văn nghệ. Một buổi tối gần Tết năm 1975, ban giám thị ra lệnh cho anh em trong ban văn nghệ lên trình diễn thử các tiết mục trước để chúng coi duyệt trước khi trình diễn chính thức cho anh em trong trại.

Tôi còn nhớ tối đó, anh em trong Khối 7 diễn tuồng “Sớ Táo Quân lên chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế”. Lúc anh Võ Đại Lợi, Đại úy, người đóng vai Táo Quân, tâu lên với anh Trần Văn Trí, vai Thượng Đế như sau:

- Muôn tâu Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Tên cán bộ Bé đang ngồi xem liền quay mặt hỏi tên cán bộ bên cạnh:

- Ê, Thượng Đế là cái gì mày?

Vì ở trong ban văn nghệ và đang đừng gần đó nên tôi nghe rất rõ. Không biết tên cán bộ cạnh nó có trả lời gì không nhưng khi anh Lợi tiếp tục những câu đối thoại của vở tuồng, nó quay lại để theo dõi. Khi Táo Quân hỏi Thượng Đế một câu thế này:

- Tại sao các Khối khác, Khối nào cũng có người về mà Khối ta lại không có ai cả? (Về đây có ý nói được trả tự do).

Anh Trí “Thượng Đế” vuốt râu trả lời:

- Đừng có lo, sang năm ta cho về hết!

Sau buổi diễn thử, ban giám thị trại quyết định dẹp bỏ màn Sớ Táo Quân. Lý do, một số cán bộ đã thấy rõ tác dụng bất lợi của màn trình diễn với “cách mạng”. Nhưng hầu hết số đông cán bộ, cỡ như tên Bé, trình độ chả bao nhiêu, xem chả hiểu được cái thâm ý của bọn tù. Đa số đi bộ đội, chỉ biết cầm súng đánh đấm, quen tác phong của dân tác chiến, học hành chẳng tới đâu, đánh vần chữ quốc ngữ còn chưa thông, bị nhồi sọ lý thuyết vô thần, không biết Thượng Đế là gì cũng chả có gì đáng ngạc nhiên.

Sau khi chúng tôi bị bàn giao cho bọn công an áo vàng quản lý, trực thuộc bộ Nội Vụ của ngụy quyền Hà Nội, chúng chuyển chúng tôi về Trại Bình Điền ở Huế. Bọn công an tỏ ra chuyên nghiệp trong việc giam giữ tù hơn đám bộ đội rất nhiều. Chúng khủng bố chúng tôi thường xuyên, có bài bản, lớp lang khiến chúng tôi phải điêu đứng khổ sở gấp trăm lần so với thời gian ở Ái Tử. Có điểm lạ là mấy tên trưởng, phó trại ở Bình Điền đều mang họ Trần.

Trưởng Trại tên Trần Văn Hương, cấp bậc Trung tá; Phó Trại Trần Văn Phúc, Đại úy. Sau khi tên Hương bị cách chức, Trại trưởng mới về thay tên Trần Văn Truyền. Còn khi tên Trại phó Trần Văn Phúc về hưu, người thay là Trần Hữu Ái. Tất cả đều họ Trần.

Hai tên trưởng và phó trại đầu tiên khi chúng tôi mới chuyển về, luôn luôn lộ vẻ mặt đằng đằng sát khí như sẵn sàng ăn tươi nuốt sống đám tù nhân. Phụ trợ có khoảng 50 tên công an nữa trong việc quản giáo, canh gác, dẫn giải… Trong số này, độc ác và nguy hiểm nhất là tên Lê Văn Năm, phụ trách an ninh trại. Chúng tôi đặt cho nó cái biệt danh là “hùm xám Bình Điền”. Mỗi lần nó vào trại, đi rảo qua các lán, ai nấy đều cảm thấy rợn tóc gáy. Nhiệm vụ của tên này là theo dõi mọi hành động lẫn tư tưởng của tù nhân và sẵn sàng tra tấn nếu cần. Để hoàn thành trách nhiệm, nó giăng một mạng lưới “ăng-ten” dày đặc khắp trại. Tất cả những tên được cài đặt làm “ăng-ten” đều hoạt động thật đắc lực và thường xuyên bí mật báo cáo cho nó những tin tức chúng nghe ngóng được. Sinh quán gốc Quảng Trị, khuôn mặt xương xóc, lúc nào cũng lầm lầm lì lì, nó sẵn sàng áp dụng mọi thủ đoạn để khủng bố tinh thần anh em tù nhân. Trường hợp cần thiết, nó không ngần ngại dùng vũ lực đánh đập, tra tấn khiến chúng tôi phải thất điên bát đảo.

Tôi nhớ có một lần, sau khi đi lao động về, chờ anh em tập họp đầy đủ để đếm số vào trại, vì quá mệt mỏi và buồn ngủ, tôi ngồi trước phòng hớt tóc gục đầu xuống hai đầu gối. Lúc đó anh Nguyễn Ngọc Hồng, Thiếu tá, cũng vừa về tới và đứng cách tôi khoảng 5m. Đang mơ màng, tôi nghe có tiếng hỏi:

- Anh Điền đang suy nghĩ gì đó?

Giật mình, tôi ngẩng nhìn lên. Tên Lê Văn Năm đang đứng ngay trước mặt. Tôi trả lời ngay:

- Nghĩ gì đâu cán bộ. Buồn ngủ quá vậy thôi!

- Anh đang nghĩ Mỹ qua lại để được lên Đại tá phải không?

Nó phóng hỏa mù hù dọa và đang rình bắt bóng. Tôi không mắc bẫy, đáp lại:

- Cái đó cán bộ nói chớ tôi không nói.
- Liệu hồn nghe chưa!

Thốt ra câu đe dọa dằn mặt tôi như thế rồi nó bỏ đi. Cái tên Năm thật nham hiểm. Nó muốn kiểm soát cả tư tưởng tù nhân nên thỉnh thoảng hỏi những câu như có vẻ bâng quơ, thật ra nếu vội vàng sơ ý hay không suy nghĩ chính chắn, trả lời lạng quạng, nó sẽ ghim trong đầu và cho người theo dõi đến cùng. Có những điều, chính nó nghĩ ra rồi vin vào câu trả lời, gán ghép tội cho tù. Thật bỉ ổi! Cũng cái chuyện cấp bậc nó gán ghép cho tôi này mà sau đó có nhiều tên cán bộ khác cũng tò mò. Với tên Năm, tôi không thèm nói, chứ với những tên khác, tôi trả lời tỉnh bơ.

Một bữa, tôi đang dắt trâu đi ăn cỏ thì trời bỗng đổ cơn mưa lớn như thác đổ. Tôi kéo con trâu chạy lại cái chuồng trâu gần đó để núp. Tên cán bộ Hồng A, đi đâu ngang qua cũng tạt vào chỗ tôi tránh cơn mưa đang trút nước. Tên này còn trẻ, tính tình hiền lành, có máu văn nghệ và không thích đấm đá và cũng đã ở trong trại lâu nên nó biết khá nhiều về anh em tù. Bản thân nó cũng thắc mắc, sao lâu quá, đã 9, 10 năm rồi mà chúng tôi vẫn chưa được thả. Đứng nói chuyện được vài ba phút về chuyện văn nghệ, văn gừng, nó bỗng hỏi tôi:

- Không thôi bây giờ anh Điền lên Đại tá rồi chứ gì?

Biết nó không có tâm địa độc ác, lại chỉ là cán bộ cấp nhỏ, không có quyền hành bao nhiêu, tôi trả lời tỉnh:

- Cỡ đó cán bộ ạ!

Bên cạnh tên “hùm xám” Lê Văn Năm, còn một tên cũng nổi bật là tên cán bộ Danh, tôi không nhớ rõ họ. Lúc đó, năm 1979, nó khoảng trên 30 tuổi. Tên này được ban giám thị chỉ định làm trưởng ban kế hoạch, chuyên bố trí sắp đặt phân công cho các khối, đội làm việc, kiêm luôn việc chỉ huy các tên cán bộ quản giáo cũng như dẫn giải.

Đó là một tên dốt đặc cán mai, trình độ thấp kém. Nghe đâu sau 1975, nó mới gia nhập ngành công an với chức binh nhì, vậy mà chỉ có 10 năm phục vụ, nó đã leo lên tới cấp bậc Thượng úy. Chính anh ruột nó, một Thượng sĩ QLVNCH, lên bứt tranh về lợp nhà đã gặp anh Hường, cùng đội với tôi, nói cho anh này biết, tên Danh là em ruột của anh ta. Trước khi vào công an, nó làm nghề thợ mộc. Nhờ có công rải ít truyền đơn “chống Ngụy”, khi “cách mạng” vào, nó được tuyển gia nhập ngành công an. Chính người anh ruột của nó còn nói tên này rất ngu dốt. Cũng chính vì sự ngu dốt đó, nó chỉ biết vâng dạ và làm theo lời cấp trên sai bảo, kiểu thiên lôi sai đâu đánh đó, nên nó được lòng lãnh đạo. Thêm vào đó, nó biết cách ton hót nịnh bợ nên chỉ một thời gian ngắn đã thăng quan tiến chức vùn vụt. Và để bảo vệ cái lon trên cổ áo, nó càng ra sức tâng công bằng cách khủng bố, đe dọa đám tù nhân để chứng tỏ lập trường “kiên trinh với cách mạng”, hết lòng phục vụ.

Có lần nó xỉ vả anh Lê Thê không còn manh giáp về việc thóc đang phơi gặp mưa đem vào không kịp nên phải đưa đi sấy. Lúc anh Thê đang sấy thóc trong bếp, nó vừa đi qua đi lại trước mặt anh, vừa đay nghiến đe dọa:

- Anh liệu hồn nghe chưa. Anh biết anh giết hại bao nhiêu người của “cách mạng” không? Đã thế anh còn phá hoại nền kinh tế quốc gia không biết bao nhiêu mà kể. Tội của anh rất nặng đến nỗi nhà nước không dám thả anh về vì nhân dân còn căm thù anh đến tận xương tủy. Nhà nước còn giữ anh ở đây là bảo vệ an toàn cho mạng sống của anh đấy. Đáng lẽ với tội lỗi như thế, anh phải biết ăn năn hối cải, lo học tập tốt, lao động tốt, cải tạo tốt để lập công chuộc tội chứ. Đàng này anh lại còn phá hoại nền kinh tế của trại nữa. Anh liệu hồn nghe chưa!

Nó làm sao hiểu được cái gì là “nền kinh tế quốc gia”! Chẳng qua, nghe bọn cán bộ cấp trên nói, nó lập lại như con vẹt, mượn những danh từ dao to búa lớn để áp đặt, hù dọa đám tù tội đang nằm trong vòng tay kềm kẹp của nó mà thôi. Anh Lê Thê là trung đội trưởng Nghĩa quân, cấp bậc chỉ tương đương với một Hạ sĩ quan trong QL/VNCH. Nhiều người như anh, chỉ phải đi học có 3 ngày tại địa phương, hoặc bất quá, có vào trại cải tạo thì cũng chỉ vài tháng là được thả về rồi. Lấy cớ nhân dân địa phương còn căm thù anh, chúng giữ anh riết trong trại tù cải tạo. Nhiều tên cán bộ còn chọc quê anh:

- Anh Thê chức vụ chỉ là Trung đội trưởng Nghĩa quân mà 10 năm vẫn chưa được về! Như vậy, tính ra anh cũng tương đương với cấp Đại tá rồi phải không?

Anh Thê chỉ còn biết nhếch miệng cười mà trong dạ xót xa. Mãi 13 năm tròn, anh mới được thả cho về xum họp với gia đình!

Ngoài tên “hùm xám” Năm và tên Danh, những tên còn lại đa số đều trẻ tuổi, chúng được bố trí giữ vai trò cán bộ quản giáo hay dẫn giải. Những tên này cũng thường tỏ vẻ hách dịch không kém. Có những tên trẻ măng, chừng 18, 19 tuổi, mặt búng ra sữa cũng bày đặt lên lớp dạy đời đám tù đáng tuổi chú bác chúng. Tên cán bộ quản giáo đội tôi tên Ngọ, khoảng tuổi 19, trong những buổi họp hàng tuần, thường chắp tay sau đít, qua lại trước mặt chúng tôi lải nhải:

- Các anh phải tự đặt câu hỏi thật lớn, tại sao các anh chưa được về? Về sớm hay muộn là do bản thân các anh quyết định lấy!

Không phải chỉ có mình nó. Hầu như tên quản giáo nào cũng lập lại câu nói đó ở các đội khác. Chúng nó lập lại những bài học như con vẹt từ trên truyền xuống nhưng lại làm như tự mình suy nghĩ sáng tạo ra những chân lý sâu sắc. Thật ra, chúng được chỉ thị nói như vậy. Hèn chi chính tên cán bộ Ngọ còn ngạc nhiên tại sao 10 năm rồi mà chúng tôi vẫn chưa ai được thả về!

Một trong số cán bộ quản giáo là tên Thuận, người Bắc, có tác phong rất “cao bồi”. Nó chuyên môn móc súng bắn chỉ thiên để hù dọa đám tù nhân.

Có một lần đang ngồi ngoài rẫy để kiểm soát tù lao động, khi thấy một anh lén xuống suối bắt cá, nó la lớn kêu anh này lên gặp. Anh này vì phải lội từ dưới suối lên tới bờ, rồi phải bò lên một đoạn dốc khá cao nên hơi chậm trễ. Chưa kịp lên tới, nó rút súng chĩa lên trời nổ luôn hai phát “Pằng”,“Pằng”. Anh tù hoảng quá vắt giò lên cổ, càn đại qua đám cỏ và mấy bụi rậm đầy gai góc chạy tới chỗ nó đang đứng.

Một lần khác, nó bặt gặp một anh tù đang hái ba cái lá rau rừng gì đó để “cải thiện” thêm cho đỡ đói, nó hạch hỏi anh hái làm gì. Anh này cãi lý sao đó, nó tức khí bèn rút súng ra cũng chĩa lên trời và nổ luôn mấy phát, đồng thời miệng quát:

- Mày có im không?

Chính vì vậy chúng tôi đặt cho nó cái biệt danh “cán bộ cao bồi”. Trong những lần họp hành kiểm điểm, nó thường ăn nói lớn tiếng ồn ào.

Không may cho tôi, sau một lần kiểm tra bất thần, tôi bị đổi sang đội của tên quản giáo “cao bồi” này. Biết được tôi chơi thân với những anh mà trại liệt vào thành phần “phản động”, trong nhiều buổi họp hàng tuần, nó hay đi qua đi lại trước mặt tôi và hăm he bóng gió:

- Các anh phải coi chừng! Có những con rệp, con rận ở trong chăn, trong chiếu của bạn bè mình bò qua rất nguy hiểm (ý ám chỉ tôi mới đổi qua). Phải để ý mà giết đi nếu không sẽ bị vạ lây đấy.

Ngồi khuất trong một góc, ánh sáng của bóng đèn điện giữa nhà không rọi tới, tôi lấy tay che miệng mỉm cười.

Nói như thế không có nghĩa vơ đũa cả nắm vì thực ra cũng có những tên cán bộ thái độ không giống đám này. Vài tên không hiểu tại sao thích học Anh văn. Một cán bộ người Bắc tên Dương đã tìm gặp riêng anh Cổn mượn sách Anh văn để học. Dĩ nhiên anh Cổn từ chối khéo nói rằng không có vì sợ bị gài. Tên cán bộ Phi, độ 20 tuổi, cũng có vẻ thích thú với môn ngoại ngữ này. Có một anh, lâu ngày tôi quên mất tên, kể lại, anh đang đứng thu hoạch thuốc lá thì tên Phi đi ngang qua, miệng cứ lẩm bẩm mấy chữ:

- Chích-cân đai (chicken die) là gà chết, chích-cân đai là gà chết.

Một lần tên này tìm đến anh Cao Hữu Hòa, cựu thông dịch viên tòa Lãnh sự Mỹ ở Huế và hỏi:

- Anh Hòa này, “yeo-lô đốc” là gì hả anh?

Anh Hòa hơi giật mình nhưng cũng tò mò gạn hỏi lại:

- Cán bộ đọc lại một lần nữa tôi nghe cho rõ mới dịch ra được. Nhưng chữ đó cán bộ thấy hay nghe ở đâu vậy?

Tên Phi đáp:

- Chiều qua, về Huế chơi, khi đi ngang chỗ mấy thằng con nít, chúng nó chỉ tôi và lập đi lập lại “yeo-lô đốc”, “yeo-lô đốc” . Tôi không hiểu nghĩa nên cứ lẩm nhẩm trong đầu cho nhớ để về đây hỏi anh.

Anh Hòa trả lời ngay:

- “Yeo-lô đốc” là con chó vàng. Đánh vần là Y-E-L-O-W D-O-G.

Như chợt vỡ lẽ ra, tên Phi buột miệng:

- Đ. M. mấy thằng “oắt con” bố láo!

Nói xong nó sượng sùng bỏ đi ngay. Anh Hòa đứng tủm tỉm cười một mình. Thì ra mấy tên nhóc này cũng đáo để. Dám ví đám công an Việt Cộng là “con chó vàng” vì bộ đồng phục màu vàng chúng mặc trên người.

Trong thời gian này, ban giám thị trại, nhất là tên trại trưởng, bắt đầu “văn minh” ra. Hồi chúng còn ở tận trong mật khu rừng rú, tên nào cũng như tên nấy, không có điều kiện tiếp xúc với xã hội bên ngoài, tên nào cũng có vẻ an phận. Nay về thành phố, bước chân vào cuộc sống khác lạ của đô thị, chúng thực tế đối diện với những cám dỗ đầy rẫy mà chúng gọi là “những tệ hại do tàn dư Mỹ Ngụy” để lại. Con người mà, ai chẳng muốn hưởng thụ! Muốn hưởng thụ phải có tiền, nhưng đồng lương thì chả có bao nhiêu. Bản chất của bọn lưu manh bắt đầu lộ ra. Có chút quyền hành, trong tay cai quản một đám đông tù mà ngày về không có thời hạn, một phương tiện giúp chúng tạo ra của cải, vật chất mà không phải đổ một giọt mồ hôi. Miệng thì chửi Mỹ Ngụy xấu xa nhưng thực tế chúng nhận ra không có con đường nào dẫn đến “vinh quang” mau bằng con đường “học theo Mỹ Ngụy”. Ngày trước chúng ngoạc miệng chửi “ngụy quyền miền Nam bè phái, tham nhũng, hối lộ…”, bây giờ không biết “vô tình” hay “cố ý”, chúng triệt để “phát huy” những cái tàn dư xấu xa ấy! Còn phát huy quá đà là đàng khác nữa!

Tù nhân thiếu thốn đã đành, mấy tên cán bộ tép riu quản giáo hay canh gác, dẫn giải cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Nhưng thức ăn thì cũng chỉ rau cỏ là chính, thịt cá không nằm trong tiêu chuẩn hàng ngày, ngoại trừ những ngày lễ, Tết. Tù nhân hàng tháng còn được thân nhân tiếp tế chút đỉnh chứ bọn cán bộ tép riu này làm gì có ai. Đi lao động bên ngoài, nhiều lúc chúng bắt tù nhân phải “cải thiện” cho chúng ăn thêm như đào khoai, sắn nấu nướng, xuống suối, tát đìa bắt cá… Hôm nào anh em tù có thăm nuôi, chúng mó vào các lán kiếm cà phê, trà, thuốc lá, thuốc lào…

Một vài tên bạo hơn, ăn cắp sắn khoai của trại đem ra ngoài bán.

Có một lần, tôi có nhiệm vụ gánh sắn thu hoạch từ rẫy về trại. Giữa đường, tên cán bộ Dương chận lại nói:

- Anh Điền, cho tôi mượn cặp trạc (rổ) được không?

Tôi trả lời:

- Cặp trạc tôi đang đựng sắn và phải gánh về kho gấp để nấu cho kịp bữa ăn chiều. Làm sao cho cán bộ mượn được.

Nó bảo:

- Tôi mượn nửa giờ thôi.

Tôi đáp:

- Không kịp đâu cán bộ. Tôi phải đi gấp thôi.

Nói xong tôi quẩy gánh đi ngay không để tên này có cơ hội chèo kéo. Đến lần gánh kế tiếp, tôi thấy hai tên cán bộ Danh và Hải chạy từ phía sau rồi qua mặt tôi hướng về ngọn đồi trọc trước mặt và chận bắt tại trận tên Dương đang dẫn một tù nhân gánh gánh sắn định mang ra chợ bán lấy tiền. Kết quả tên Dương phải làm kiểm điểm về vụ ăn cắp sắn này.

Một anh bạn tù trong đội tôi kể lại, khi đi ngang qua chỗ mấy tên cán bộ dẫn giải và tên Dương đang đứng, tình cờ anh nghe được tiếng tên Dương nói với mấy tên kia:

- Đ.M. tụi bay để tao làm cho. Tao có 3 sao (cấp bậc Thượng sĩ của Việt Cộng), nếu mất 2 cũng còn một sao. Chớ tụi bay chỉ có 1 sao mà nhào vô ăn cắp như tao sẽ chẳng còn sao nào cả!

Thì ra đói quá chúng cũng đâm liều. Đúng như ông bà bảo “đói ăn vụng, túng làm càn”.

Vào thời gian bị biên chế đưa về lại đội 1, tôi quen với một cậu tù hình sự tên Vinh, người Huế, khoảng chừng 20 tuổi. Một buổi chiều khi dẫn trâu về, gặp tôi cậu ta kể lể:

- Anh Điền ơi, “ông” cán bộ Tiến bần tiện quá.

Tôi tò mò hỏi:

- Sao vậy?

Cậu ta thuật lại:

- Anh xem, em đã làm bột lọc cho “ổng” ăn rồi. Còn vài củ sắn em dấu trong tranh để về có đói bụng em ăn, vậy mà “ổng” cũng moi ra ăn hết trơn luôn!

Thực sự tụi này không đến độ đói hay thiếu ăn như đám tù nhân. Dầu gì, chúng cũng có điều kiện và xoay xở dễ dàng hơn. Nhưng có lẽ, chúng so sánh với bọn cán bộ cấp cao hơn trong ban giám thị, chúng cảm thấy bị thua thiệt, bị chèn ép nên có nhiều lúc, anh em tù có việc di chuyển ngang qua khu nhà ở của ban chỉ huy trại, thấy bọn này cầm đũa chén gõ khua thành tiếng, miệng thì rêu rao ong ỏng “Đói quá, đói quá”.

Một vài tên phản ứng ra mặt, như tên Xá, dám ăn cắp một tấm ri sắt của trại đem đi bán lấy mấy trăm đồng. Bị tên Danh bắt được, phải làm kiểm điểm. Nó bất mãn nên thường đem những chuyện xấu xa của bọn cán bộ nói lại cho anh em tù. Nghe đâu sau này tên Xá bị sa thải khỏi ngành công an nên phải nhập bọn đi buôn trầm với một tù cải tạo đã được tha về từ Trại 1 Bình Điền.

Với bọn cán bộ có quyền thế hơn, nhất là 2 tên trưởng và phó trại thì khác hẳn. Tên trưởng trại, về sau lên tới Trung tá, là một tên “chúa” tham nhũng. Không những cắt xét tiêu chuẩn thực phẩm của tù, nó còn ăn chận tiền ăn của bọn công an dưới quyền nữa. Tiền xây cất mấy dãy nhà ngói để nhốt tù nhân cho kiên cố, nó cũng rút bớt khiến thời gian kéo dài mấy năm trời.

Với quyền hạn trong tay, nó rỉ tai cho mấy tên đàn em tín cẩn, gạ gẫm thân nhân tù, nhất là những vợ con, cha mẹ nào nhẹ dạ, chạy tiền hối lộ, chồng con sẽ được về sớm! Nó gom góp của họ, người năm ba chỉ vàng, người vài cây. Chưa hết, nó ra lệnh cho tên cán bộ kế hoạch trại, cắt những toán đi rừng, kiếm hạ những cây gỗ quý, xẻ thành ván và mỗi chủ nhật, chúng bắt anh em tù làm thêm mấy tiếng, gọi là “lao động xã hội chủ nghĩa”, ra tận bãi khiêng về bán lấy tiền bỏ túi.

Sau vụ 20 tháng 4 kèm theo những tố cáo, có thể do mấy tên cấp dưới bất mãn đồn tới tai bọn lãnh đạo ở tỉnh, một phái đoàn ở Ty Công an Bình-Trị-Thiên, có sự phối hợp với Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội, đã được cử tới trại thanh tra.

Kết quả tên Trần Văn Hương bị cách chức vì nhiều tội: để cho tù nhân nổi loạn, tham nhũng tại trại, xử dụng tù nhân vào những công việc lao động để trục lợi bản thân, nhận hối lộ của thân nhân “cải tạo viên”…

Công việc đoàn thanh tra không khó khăn vất vả bao nhiêu vì có những sự việc khá lộ liễu. Tên cán bộ Chính, một nhân viên thuộc ty công an Bình-Trị-Thiên, nằm trong đường giây hối lộ, ăn chia với tên trưởng trại, thường đến từng nhà của thân nhân tù phạm thăm dò tình hình, gợi ý và hướng dẫn họ đường đi nước bước. Nó là người mỗi khi xuất hiện ở trại, anh em tù thường háo hức vui mừng vì sắp có đợt phóng thích. Cái “xắc-cốt” nó đeo bên hông chứa đựng những hồ sơ có liên quan đến việc xét tha tù. Anh em thấy nó mừng rỡ là vì vậy và đặt tên cho nó là “thần tự do”.

Khi tới trại, hễ thấy ai đi gần, nó đều hỏi:

- Anh tên gì?

Anh nào trả lời mà thấy nó cười cười là hy vọng có tên trong danh sách được thả. Nó làm thinh thì coi như chờ đợt sau. Hoặc giả đôi lúc nó giả bộ cười để né tránh thì coi như “đi đoong”.

Một lần chúng tôi đang ngồi bóc vỏ đậu phộng trước sân, nó lại gần bắt chuyện. Đề cập đến mấy cô Nữ Huấn Đạo trong đội Chính huấn của các tiểu đoàn CTCT trong QL/ VNCH trước đây, nó hỏi có phải mấy cô đó nằm trong đội Thiên Nga hay không. Lúc đó anh Trần Công Nhượng, từng là trưởng phòng Tâm Lý Chiến SĐ1BB, đưa mắt liếc tôi cười như ngụ ý, thằng này chả biết cóc gì cả. Bỗng một anh lên tiếng:

- Thiên Nga mô mà Thiên Nga cán bộ. Thiên Nga là bên ngành Cảnh sát. Mấy cô đó là nữ huấn đạo của quân đội chứ không phải là Thiên Nga thuộc Cảnh sát.

Với nhiệm vụ liên quan tới việc phóng thích tù nhân, tên này đã kết bè với vài tên công an cấp tá trong Ty Công an Bình-Trị-Thiên cùng tên trưởng Trại Bình Điền, móc nối thân nhân tù nhận tiền lo lót, hối lộ của họ, để ghi tên anh tù nào muốn được về sớm trong danh sách mỗi đợt xét tha.

Chỉ vì quá tham lam, nhận hối lộ quá nhiều lại công khai lộ liễu nên cuối cùng cả bọn bị cách chức, sa thải khỏi ngành công an. Nghe đâu, tên trưởng trại Trần Văn Hương này, khi ra ngoài đời cũng phải theo bọn buôn trầm để kiếm sống.









































CHƯƠNG 9

Những người thuộc diện hình sự


Vào khoảng năm 1981, 1982, một số tù thuộc diện hình sự được đưa lên ở trại tù cải tạo chung với chúng tôi.

Số người này thuộc đủ thành phần: công nhân viên trong guồng máy ngụy quyền Hà Nội bị tội tham nhũng, những người trong miền Nam tham gia vào các tổ chức, đoàn thể chống lại Cộng sản như các nhóm của ông Tống Châu Khang, Phạm Lự, nhóm T65, nhóm Da Vàng v.v…; số người vượt biên, vượt biển tìm tự do, bọn đạo tặc, tệ đoan xã hội như: trộm cướp, giết người, hiếp dâm, xì ke ma túy, đĩ điếm…

Trừ những thành phần chống đối chế độ mới của Cộng sản, người vượt biên, vượt biển, còn lại là những phần tử tận cùng xã hội, cuộc sống hiện tại bấp bênh, không có tương lai nên buông thả bất cần đời.

Những thành phần được xem là trí thức, có lý tưởng tự do như các anh trong nhóm “phản động mới”, đa số họ là những thanh niên trẻ, tỏ ra rất gan dạ. Dầu bị kết án khổ sai chung thân, không bao giờ họ cảm thấy nao núng. Trong số này, tôi được biết 2 anh: một người tên Kim và người kia là anh Lê Viết Hòa. Nghe đâu hai anh nằm trong tổ chức ám sát tên Đại tá công an Bảy Khiêm, Trưởng Ty Công an Bình-Trị-Thiên, nhưng bất thành. Bởi vậy lúc bị đưa lên trại tù cải tạo, hai anh này bị theo dõi và điều tra rất kỹ.

Có lẽ anh Lê Viết Hòa không chịu khai và chuẩn bị trốn trại nhưng bị lộ nên bị tên “hùm xám” Lê Văn Năm tra tấn thật man rợ.

Anh Trần Viết Hòa nằm cạnh tôi, có lần khi đi ngang nhà lô, chứng kiến anh Lê Viết Hòa bị treo ngược lên xà nhà, đầu chúc xuống đất, miệng ứa đầy máu. Đứng bên cạnh là tên Lê Văn Năm đang hăng máu tra khảo, la lối om xòm.

Sau này, hầu hết các anh em thuộc diện “phản động mới” đều được di chuyển vào các trại miền Nam cả. Riêng số cán bộ, nhân viên ngụy quyền Hà Nội can tội hủ hóa hay bị trù dập, có một ít người cũng được đưa vào trại tôi. Trong số này có tên Cẩn, từng mang quân hàm Đại úy, tên Anh, mang quân hàm Trung úy. Hai tên này vì bất mãn chế độ nên vài người trong chúng tôi khéo léo dò la khai thác, biết được nhiểu mẩu chuyện cũng vui vui.

Tên Cẩn có lần thổ lộ, anh ta công nhận ông Ngô Đình Diệm và ông Nguyễn Cao Kỳ là hai người yêu nước thật sự. Anh Cổn rất ngạc nhiên vì, lần đầu tiên (năm 1984), nghe thấy chính miệng một tên cựu sĩ quan Việt Cộng ca ngợi 2 người từng là lãnh đạo của chính phủ miền Nam.

Tên Cẩn còn cho hay, dân chúng vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh đang chia làm hai phe: một phe chống, một phe thân Lê Duẩn. Nó nhấn mạnh, dân Thanh-Nghệ-Tĩnh sau này ghét Hồ Chí Minh vô cùng. Theo tên Cẩn, dân chúng 3 tỉnh này, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, vào Nam họ mới thấy sự tuyên truyền của họ Hồ và đảng Cộng sản là láo khoét, không đúng sự thật. Chính vì nghe theo luận điệu xảo trá bịp bợm của Việt Cộng mà họ phải rơi vào cảnh cửa nhà tan nát. Con cái họ vào Nam “chống Mỹ cứu nước” không có ngày trở lại dù bây giờ đất nước đã thanh bình. Dù mang tiếng là thân nhân “tử sĩ cách mạng” nhưng họ chẳng được ưu đãi gì hơn chưa kể là còn bị bọn có quyền thế chèn ép ngược đãi nữa!

Có một chuyện cũng hấp dẫn về vụ “điệp viên” Trần Tư Thoan của Phòng Nhì Pháp (deuxième bureau) như sau. Trần Tư Thoan là một đảng viên Cộng sản Việt Nam, bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo và chết tại đây. Lợi dụng cái chết này, bọn Pháp đưa một sĩ quan Việt Nam, có khuôn mặt giống như Thoan, cho học thuộc lý lịch, luyện tập cách ăn nói, đi đứng, tác phong y chang tên Thoan thật khi còn sống rồi sắp xếp để phóng thích.

Tên Thoan đội lốt, trở về tỉnh Quảng Bình, bắt liên lạc với đảng và hoạt động trở lại. Không một ai nghi ngờ vì chuyện tên Thoan thật chết được Pháp giữ kín. Theo chỉ thị của Phòng Nhì, Thoan giả hoạt động thật đắc lực để chiếm lòng tin của đảng Cộng sản. Hoạt động hăng say, đạt nhiều thành tích đến độ Phạm Văn Đồng cũng biết đến và tưởng thưởng bằng khen với huy chương rất nhiều. Sau một thời gian, tên Thoan giả được chính Phạm Văn Đồng ký giấy bổ nhiệm làm Bí thư tỉnh ủy Quảng Bình, chức vụ cao nhất của tỉnh.

Trong một buổi họp những thành phần cao cấp do Thủ tướng Phạm Văn Đồng chủ tọa, Bí thư tỉnh ủy Trần Tư Thoan lên báo cáo công tác. Sau buổi họp, một tên Đại tá đến gặp Đồng nói nhỏ, ông ta ngạc nhiên về sự xuất hiện của tên Thoan. Tên Đại tá này cam đoan đó là tên Thoan giả vì tên Thoan thật đã chết trong nhà tù Côn Đảo. Sở dĩ y giám cam đoan như vậy vì chính y từng bị nhốt chung một buồng giam với Thoan ngoài Côn Đảo. Đã thế, y còn chơi rất thân với tên Thoan thật và biết rõ Thoan thật có một vết thẹo ở sau lưng.

Phạm Văn Đồng tức tốc cho mở cuộc điều tra, chỉ thị cho những bạn bè thân của tên Thoan tìm cách tiếp cận và xem cái lưng có vết thẹo hay không. Kết quả báo cáo về là không có vết thẹo nào trên lưng tên Thoan giả. Đồng vẫn chưa tin hẳn và cho tiếp tục theo dõi kỹ hơn.

Lợi dụng lúc máy bay Mỹ oanh tạc Hà Nội, Đồng chỉ thị cho máy bay Việt Cộng thả bom xuống khu vực tòa đại sứ Pháp ở Hà Nội. Trong lúc toàn bộ nhân viên trong tòa đại sứ chạy xuống hầm trú ẩn, đám điệp viên lẻn vào lục soát đống hồ sơ mật. Sau khi tìm được tài liệu mật về tên Trần Tư Thoan giả, Đồng cho gọi y ra Hà Nội trình diện.

Thoạt đầu, tên Thoan giả không nhận mình là điệp viên của Pháp. Y nêu ra những bằng chứng cụ thể rằng, mình đã hoạt động rất đắc lực cho “cách mạng” trong thời kỳ “chống Mỹ cứu nước”. Vì những thành tích đó mà y đã có được rất nhiều bằng khen cũng như huy chương và được đề bạt vào chức vụ cao nhất của một tỉnh. Đến khi Đồng đưa ra xấp hồ sơ mật lấy từ tòa đại sứ Pháp, tên Thoan giả mới hết đường chối cãi.

Phạm Văn Đồng hỏi tên Thoan giả:

- Tại sao anh là điệp viên của Pháp mà lại hoạt động đắc lực cho đảng Cộng sản Việt Nam như vậy? Anh đã có những hành động nào có lợi cho Pháp chưa?

Tên Thoan giả trả lời:

- Thưa Thủ tướng, tôi chưa bao giờ làm việc gì có lợi cho Pháp cả. Còn tại sao tôi hoạt động hăng say cho đảng Cộng sản Việt nam, chẳng qua tôi đã giác ngộ.

Cho dù có khéo biện bạch tới đâu, tên này vẫn bị cách chức và cho về vườn. Câu chuyện chỉ có thế, từ miệng một tên cựu sĩ quan “bộ đội nhân dân” của “cụ Hồ” kể lại. Thực hư thế nào, chỉ có trời biết!

Bây giờ nhắc đến những người thuộc diện tù hình sự. Số này khá đông, đa số còn trẻ tuổi, lăn lóc bụi đời ngoài xã hội, ít được học hành đàng hoàng. Có tên chỉ mười mấy tuổi mà vào tù ra khám năm lần bẩy lượt vì những tội trộm cắp vặt. Một cậu tên Lân, chừng 18, khi tôi hỏi cậu ta vào đây vì tội gì, cậu ta bảo nhiều lắm, kể không hết được. Tội nặng nhất là lấy một chiếc nhẫn đang đeo trên ngón tay của một phụ nữ. Để lấy nó cho nhanh, gọn, cậu ta không ngần ngại vung con dao bén, chặt một phát thật ngọt. Cái ngón tay của người phụ nữ không may mắn, rớt xưống mặt đường và cậu ta lẹ làng lượm lên, vuốt chiếc nhẫn khỏi đoạn ngón tay cụt còn dính đầy máu me và biến dạng sau khi quẳng khúc ngón tay đó lại bên vệ đường.

Một cậu khác tên Độ, ở chung đội với tôi, bị đưa lên đây vì tội ăn cắp trâu. Cậu ta phàn nàn rằng có một thằng bạn, cũng can tội ăn cắp trâu như cậu nhưng được xử nhẹ hơn cậu ta 6 tháng tù. Tôi hỏi tại sao, cậu ta nói:

- Vì khi quan tòa đang hỏi em lại mở miệng cười.

Với mấy tên phạm tội hình sự này, hình như tên nào cũng có những mẩu chuyện lý thú về cuộc đời phiêu phạt giang hồ của mình. Một cậu tên Lanh, có một cái bớt hay bị tật sao đó phía má trái, mặt sưng lên như mắc quai bị, kể cho tôi nghe, trong thời gian “chống Mỹ cứu nước” tại tỉnh Quảng Bình, lúc đó cậu ta đang làm du kích xã. Khi máy bay Mỹ đến oanh tạc, cậu ta cùng một số du kích xã khác dùng súng đủ loại để bắn may bay. Ngày hôm đó, không hiểu lý do nào một chiếc máy bay bị hạ rớt, viên phi công Mỹ nhảy dù ra ngoài và sau khi dù đáp xuống đất thì bị vây bắt. Tên xã trưởng dẫn một đám du kích lại gần chĩa súng vào người và hỏi viên phi công bằng tiếng Việt. Làm sao viên phi công Mỹ hiểu mà trả lời. Tên xã trưởng tức giận quát tháo ầm ĩ. Khi giải về trụ sở xã, Lanh và mấy du kích đem chén đũa và thức ăn tới. Thức ăn Việt Nam, ở vùng nhà quê có cái quái gì, lại không biết làm sao dùng đôi đũa gắp, viên phi công không ăn uống được gì. Chỉ vài ngày sau, vì không ăn uống được viên phi công Mỹ qua đời. Tên xã trưởng quyết định cho đào một cái hố trong một bãi cát gần đó để chôn cái xác viên phi công. Vài ngày sau, khi đi ngang, Lanh thấy mấy con chó đã bới cái hố nơi chôn gã phi công người Mỹ và tha đi mấy miếng thịt người.

Từ khi đám tù hình sự được nhập vào trại, họ cũng được sắp xếp xen vào các đội ở chung với chúng tôi. Do đó, khi đi lao động, họ cũng làm chung một công việc như chúng tôi. So về sức khỏe, họ trẻ hơn chúng tôi nên lao động sức lực hơn hẳn chúng tôi. Về công việc, họ là dân quen công việc đồng áng, trồng trọt…, nói chung là công việc lao động chân tay họ cũng thành thạo hơn đám sĩ quan “ngụy” tụi tôi rất nhiều. Trong đội tôi có một anh tên Trực khoảng 28 tuổi. Anh ta quen công việc nhà nông, cày bừa khá thành thạo nên tên Xuân, cán bộ quản giáo đội Rau xanh, để cho anh ta cày vạt đất trước mặt nhà lô. Lúc đó tôi đang giữ trâu nên mỗi lần cày xong là tôi đắt trâu đi ăn cỏ.

Vào một buổi sáng, khi tôi đi cắt cỏ về thì kẻng giải lao vừa điểm. Tôi đặt gánh cỏ xuống và ngồi nói chuyện phiếm với anh ta. Sau khi kể những mẩu chuyện ở miền Nam mà anh ta đã có dịp chứng kiến sau 1975, thình lình anh ta hỏi tôi:

- Em nghe nói sĩ quan Đà Lạt thông minh lắm phải không anh?

Nghe hỏi vậy tôi phân vân không biết trả lời sao. Nếu nói phải thì khác gì mèo khen mèo dài đuôi. Nhưng suy cho cùng thì quả như vậy. Tôi bèn nói:

- Đúng, nhưng em nghe ai nói thế?

Anh ta đáp:

- Dạ, “giải phóng” xong, em ở ngoài Bắc vào Nam chơi nghe người ta nói như vậy.

Phần những anh em can tội vượt biên, vượt biển bị bắt đưa lên trại cũng khá đông. Mỗi lần gặp chúng tôi, họ thường kể những mẩu chuyện khổ đau, vui buồn khi lênh đênh trên biển cả. Anh Thường, sinh quán tại Thuận An, Huế kể lại chuyện vượt biển của anh như sau.

Chiếc gọ chở người vượt biển khởi hành tại bãi biển Thuận An, Huế. Sau 3 ngày rẽ sóng vượt trùng dương, chiếc gọ chuẩn bị vào bờ thì trời đã khuya. Anh em trên gọ thấy ánh đèn trên thành phố sáng choang trước mặt nên tất cả reo mừng vì nghĩ rằng đến được Hồng-Kông. Khi còn cách bờ vài chục thước, bỗng đâu một âm thanh quen thuộc vang lên trong đêm tối:

- Ai mua hột vịt lộn!

Thế là tất cả vỡ mộng. Thành phố trước mặt chắc chắn không phải là Hồng-Kông mà là một tỉnh nào đó trên đất nước họ đã từ giã để ra đi vài ngày trước đó. Bọn du kích địa phương cũng đánh hơi được mùi gọ lạ và cho người ra đón bắt. Lên tới bờ, mọi người mới vỡ lẽ mình đã đến được xứ “Tam Kỳ” chứ không phải Hoa Kỳ!

Một anh nữa tên Tài, người Việt gốc Hoa, đã kể cho tôi nghe vụ vượt biển có kèm theo “chiến đấu” với hải thuyền của Việt Cộng khá độc đáo.

Lúc chiếc gọ của anh ta vừa ra biển cách bờ khoảng vài cây số thì thấy một chiếc tàu tuần tiễu của Việt Cộng đuổi theo. Để hù chiếc tàu đuổi theo, anh Tài ra lệnh khai hỏa. Từ xa, nghe tiếng nổ liên thanh kèm theo những ánh chớp lập lòe từ những họng súng trên gọ hướng về phía mình, bọn Việt Cộng trên tàu tuần tiễu không dám tiến gần. Khi tiếng súng trên gọ anh Tài vừa ngưng, mấy tên Việt Cộng đoán rằng bọn anh đã hết đạn nên chúng tăng tốc độ bám sát. Khi gần bắt kịp chiếc gọ, bọn Việt Cộng bắn chỉ thiên thị uy và ra lệnh chiếc gọ dừng lại. Không có cách nào khác hơn, chiếc gọ phải tắt máy. Bọn lính Việt Cộng nhảy sang mới “bật ngửa” khi thấy một đống xác pháo đỏ rói nằm rải rác đầy sàn gọ. Cái mưu kế dùng pháo nổ thay tiếng súng không gạt được bọn Việt Cộng trên tàu tuần tiễu bao lâu. Tất cả những người trên gọ đều bị bắt.

Chuyện vượt biên thì nhiều lắm không thể kể hết. Câu chuyện của anh Tài là chuyện vượt biển để ra đi. Bây giờ đến chuyện vượt biển để trở về!

Nhân vật chính là anh Khôi, cũng người Thuận An, Huế, khoảng 40 tuổi. Anh đã đến được Hồng-Kông nhưng vì không có diện nên không có nước nào nhận cho định cư cả. Anh sống trong trại tỵ nạn cả năm trời trong chán nản. Khi được phép ra khỏi trại tỵ nạn để làm việc, anh dành dụm một số tiền đủ mua một chiếc tàu nho nhỏ và quyết định về Việt Nam thăm vợ đồng thời chở gia đình đi luôn. Khi gần tới bờ biển Việt Nam, anh neo lại ngoài khơi, xuống gọ và lái vào bờ. Đến được sát bờ trời đã khuya lắm. Anh lặng lẽ tìm đường xưa lối cũ về nhà mình. Vừa vào trong nhà, anh ta thấy vợ con còn đó nên rất mừng. Trong lúc vợ chồng đang hàn huyên to nhỏ, mấy người hàng xóm nghe được kéo qua hỏi thăm. Ai cũng lấy làm lạ vì anh vắng mặt cả năm nay lại quay về. Người này kháo người nọ. Chả mấy chốc chuyện đến tai chính quyền xã. Bọn du kích kéo đến bắt anh đưa vào trại cải tạo luôn!

Lúc đầu anh Khôi bị kết án 3 năm tập trung cải tạo với tội danh vượt biển trái phép. Sau đó chúng lại nghi ngờ anh làm gián điệp vì đã ra khỏi nước 1 năm nay lại quay về nên tăng thời gian cải tạo lên 9 năm. Mỗi lần gặp tôi, anh Khôi cứ than vắn thở dài. Tôi cũng bực cho anh ta nên bảo:

- Anh có điên không mà về thăm quê kiểu đó?

Anh đáp lại:

- Anh nói cũng phải. Nhiều khi nghĩ lại tôi thấy mình là thằng điên nhất thế giới.

Tôi nhớ vào khoảng năm 1983, sau một đợt biên chế, tôi được đổi sang đội 4. Nằm cạnh tôi là một thanh niên người Hà Nội, khoảng 24 tuổi, tên Tới. Là một tên “quái’, vào tù ra khám như ăn cơm bữa, khi trại này, lúc trại nọ. Anh ta có thái độ dửng dưng bất cần đời, coi thường mọi việc. Ban đầu còn lạ, Tới ít nói chuyện với tôi. Một thời gian, thấy tôi hay đàn hát, anh ta lân la làm quen gợi chuyện.

Một bữa tối, ăn cơm xong, anh ta xà lại giường tôi đang nằm hỏi:

- Anh Điền cải tạo được bao năm rồi?

Tôi trả lời:

- 9 năm rồi em ạ.

Tới nói:

- 9 năm thì cũng lâu đấy nhưng không lâu bằng mấy anh biệt kích ngoài Hỏa Lò Hà Nội.

Nghe nhắc tới “mấy anh biệt kích” tôi hơi giật mình, tò mò hỏi:

- Em bảo sao? Mấy anh biệt kích còn ở ngoài đó hả?

Tới đáp:

- Còn, họ vẫn còn bị nhốt ở đó.

- Sao em biết?

Tôi gặng hỏi thêm. Tới quả quyết:

- Chính em từng ngủ cạnh họ giống như em ở với các anh bây giờ. Họ nói với em, họ thuộc toán biệt kích nhảy ra Bắc hoạt động từ thời Ngô Đình Diệm cơ. Bây giờ họ vẫn còn ở ngoài đó.

Thế thì tiêu đời! Tôi thầm nhủ.

- Biệt kích bị bắt giam từ thời ông Diệm tới giờ còn chưa được thả thì số phận những “sĩ quan ngụy” như chúng tôi sẽ biết đến chừng nào?

Để tìm hiểu, tôi hỏi thêm:

- Thế em có biết các anh biệt kích ấy mang cấp bậc gì không?

- Hạ sĩ quan thôi anh ạ!

Tới trả lời. Tôi tiếp tục câu chuyện:

- Nhưng hồi đó em làm gì mà bị đưa vào Hỏa Lò?

- Tội “quái” chứ tội gì nữa anh!

Tới trả lời tỉnh bơ, và bình thản tiếp tục:

- Em vào tù năm lần bẩy lượt rồi anh ơi. Nay cải tạo tỉnh này, mai tỉnh nọ. Năm ngoái mới được thả, em liền vào Huế chơi và “làm ăn” luôn thể. Không ngờ bị chộp và tống vào đây.

Tôi chép miệng thương hại buông lời khuyên nhủ:

- Em nên tu tâm dưỡng tính đi. Sống bằng cái nghề “quái” như vầy, chỉ khổ suốt đời mà thôi.

Tới thật thà tâm sự:

- Anh tính coi, em cũng đâu muốn thế. Cuộc đời tù tội có sướng ích gì đâu! Khổ chết mẹ. Đói lên đói xuống, còn bị tụi cán bộ hành hạ, dằn vặt. Ngặt cái, em có học hành bao nhiêu, nghề ngỗng cũng không, lại mang tiền án tiền sự, đi xin việc có ai thèm mướn đâu! Nhưng dầu sao, em cũng cám ơn anh đã có lời khuyên bảo. Kỳ này được về, em sẽ cố gắng tu tỉnh, thử sống lương thiện xem sao chứ tù mãi khổ quá anh ạ!

Xem như vậy, dưới chế độ “ưu việt” trong cái gọi là “xã hội xã hội chủ nghĩa” của bọn Việt Cộng, những tệ đoan xã hội ngày càng phát triển không có cách giải quyết. Bọn cầm quyền chỉ biết dùng biện pháp tống khứ những kẻ phạm tội vào nhà tù để trừng trị mà không đưa ra được đường lối nào để ngăn ngừa hay giải quyết từ nguyên nhân gốc rễ đưa đến những tệ đoan xã hội đó.

Từ ngày chúng cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam đến giờ, chúng lúc nào cũng đổ thừa những tệ nạn xã hội là tàn dư Mỹ Ngụy để lại. Ngày nay, “Mỹ đã cút”, “Ngụy đã nhào”, chúng đã có bao nhiêu thời gian từ khi thống nhất đất nước, chúng nắm toàn quyền cai trị, có chủ quyền, độc lập, tự chủ nhưng chúng đã làm được những gì? Nhân dân cả nước, ngày càng đói khổ thêm, cơm không đủ ăn, phải ăn độn khoai sắn, bo bo, bột mì, áo không đủ mặc. Điều này chưa hề xảy ra dưới chế độ miền Nam trước đây. Tệ nạn xã hội còn tràn lan gấp trăm lần thời “Mỹ Ngụy”. Kinh tế trì trệ, phát triển thụt lùi hàng chục năm so với những nước chậm tiến trên thế giới. Bọn lãnh đạo, thi nhau vơ vét, tham nhũng, bóc lột sức lao động của nhân dân cả nước. Tài sản chúng tích lũy chỉ trong một thời gian ngắn ngủi đã lên đến hàng tỉ đô-la. Chúng tha hồ hưởng thụ trên sự đau khổ của nhân dân khắp mọi miền đất nước.

Để bảo vệ địa vị vững chắc, chúng khăng khăng bám víu duy trì cái đảng Cộng sản, chủ nghĩa xã hội lỗi thời… trong khi cả thế giới đã từ từ tẩy chay. Ngay cả cái đất nước đẻ ra cái lý thuyết Cộng sản là Liên Sô, ngày nay cũng đã dẹp nó vào sọt rác, bọn cầm quyền bèn quay sang bợ đỡ đàn anh Tàu Cộng.

Với chủ trương bành trướng bá quyền của Bắc Kinh, với tham vọng thôn tính nước ta từ nhiều ngàn năm trước đây, tương lai vận mệnh dân tộc, đất nước Việt Nam đang lâm vào một hiểm họa đầy đen tối chưa từng có trong lịch sử.


(Còn tiếp)



       



Xoá hình nền                                                       Tăng độ chữ

Đăng Bài Mới    Góp Ý Kiến   
phpBB - Creating Communities
Vista theme by HelterSkelter © 2007 ForumImages
Vista images © 2007 Microsoft