Trại Ái Tử Và Bình Điền (Tiếp theo)

B. NHỮNG PHẢN ỨNG CỦA MỘT VÀI NHÓM HAY MỘT VÀI CÁ NHÂN.

Lúc ở Trại Ái Tử, chỉ có vấn đề trốn trại làm bọn cán bộ mất ăn mất ngủ thôi, còn những cuộc nổi loạn hay những phản ứng cá nhân chưa xảy ra. Có chăng đi nữa thì cũng chưa có gì trầm trọng như lúc chúng tôi vào Trại Bình Điền ở Thừa Thiên.

Ngay tại Trại Bình Điền lúc chúng tôi chưa vào đã có một số anh em thành lập từng nhóm nhỏ, chuẩn bị hành động thì bị phát giác và dập tắt. Chẳng hạn như nhóm của anh Hồ Minh Lữ, Trung úy Cảnh sát. Trước khi bị bắt, anh Lữ đã phải vội vàng nuốt mấy trang giấy tài liệu mật vào bụng để phi tang khiến cuống họng anh bị trầy xước sao đó, máu chảy ra khá nhiều. Cũng có thể có một vài nhóm nữa nhưng tôi không được biết vì họ hoạt động hoàn toàn bí mật.

Sau này, lúc đã vào Trại Bình Điền , tôi thấy có một nhóm của anh Trần Quang Miễn cũng hoạt động chống Cộng sản ngay trong trại. Nhưng cuối cùng tất cả cũng bị khám phá ra và bị bắt.

1. Vụ thứ nhất: Nhóm của các anh Trần Quang Miễn, Phạm Bá Vịnh và Phạm Hữu Lập.

Anh Trần Quang Miễn cũng như anh Phạm Bá Vịnh đều ở trong ban văn nghệ với tôi. Hai anh rất khôn ngoan và chiếm được cảm tình của anh em cũng như của đám cán bộ trại qua tài diễn xuất của họ qua các màn trình diễn văn nghệ. Nhất là anh Trần Quang Miễn đã đóng vai một anh bộ đội “cụ Hồ”, ăn nói thật xuất sắc khiến bọn cán bộ không ngờ được một tên tù cải tạo có thể nhập vai một bộ đội đến như thế. Thật ra đó chỉ là bức bình phong khéo léo, anh cố tình dựng ra để che mắt chúng mà thôi hầu dễ bề hoạt động chống lại chúng. Chính anh Trần Quang Miễn, Phạm Bá Vịnh và anh Phạm Hữu Lập đã cùng nhau họp lại thảo ra một cương lĩnh chống Cộng sản ngay trong trại sau này.
Anh Vịnh cho tôi biết, sau những lần gặp gỡ bí mật và tâm sự với nhau, ba người quyết định thành lập Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước ngay tại Trại 1 ở Bình Điền vào năm 1979. Thực ra các anh là những người được đề cử soạn thảo bản cương lĩnh và cả ba đều là đồng Chủ tịch. Còn thành phần của Mặt Trận gồm các toán đi rừng (đội khai thác gỗ), đã họp kín trong rừng sâu những lúc đi lấy gỗ và thành lập Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước vì những nguyên nhân sau:

“Cộng sản đã phản bội Hiệp Định Paris về Việt Nam, nuôi tham vọng ăn cướp miền Nam phát xuất từ tư tưởng man rợ của Hồ Chí Minh. Hiệp Định Paris về Việt Nam là một cái cớ để Cộng sản Hà Nội mượn đường, trên sách lược quốc tế của Mỹ, tràn quân xuống miền Nam năm 1975.

- Cả quân đội, cán bộ, đảng viên các cấp hành chánh chính quyền Cộng sản đã lộ nguyên hình một lũ cướp nước, cướp của, giết dân,trả thù.

- Hơn 20 năm kể từ khi Cộng sản chiếm Hà Nội (1954), người dân miền Bắc sống dưới chế độ Cộng sản đã trở thành nô lệ khủng khiếp, nền văn minh, văn hóa đã lùi lại tận cùng của loài người, dân chúng bị bóc lột, dốt nát, nghèo đói.

- Miền Nam biến thành nhà tù không lồ sau năm 1975, trật tự xã hội, luân lý, đạo đức bị đảo lộn.

Ý thức được tình trạng đất nước đang bị hiểm họa Cộng sản gây tang tóc, dân tộc đang đi vào con đường đen tối, thế hệ trẻ mất hướng đi, không có tương lai. Những người tù đang bị Cộng sản giam giữ tại các trại tập trung trên khắp đất nước hãy đứng dậy cùng toàn dân”.

Vì những nguyên nhân được đề cập ở trên nên theo anh Phạm Bá Vịnh:

“Nay thành lập Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước. Mặt Trận trân trọng công bố cùng dư luận trong và ngoài nước bản tuyên ngôn 6 điểm sau đây:


1- Nhân dân Việt Nam yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội thi hành nghiêm chỉnh bản Hiệp Định Paris về Việt Nam năm 1973.

2- Cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam được biến hóa thành chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam là con đẻ của nhà cầm quyền Hà Nội, là tấm bia đỡ đạn suốt cuộc chiến, và cũng là quả chanh sẽ được Hà Nội vắt hết nước trong nay mai. Nhân dân miền Nam Việt Nam yêu cầu Cộng sản Hà Nội phải trả lại nguyên trạng tình trạng xã hội miền Nam trước năm 1975. Chấm dứt mọi thủ đoạn bắt bớ, giam cầm, trả thù và ăn cướp tài sản của đồng bào vô tội tại miền Nam Việt Nam.

3- Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước kêu gọi đồng bào trong nước, hải ngoại, các tôn giáo, các tổ chức chính trị, các hội đoàn hãy đoàn kết lại, ý thức đất nước và dân tộc đang bị họa Cộng sản bóp chết dần dần. Nền văn minh và văn hóa của dân tộc sẽ bị diệt vong thay thế bằng giáo điều của Cộng sản quốc tế do Hồ Chí Minh và tay sai áp đặt lên đầu dân tộc ta.

4- Mặt Trận kêu gọi thanh niên không đi nghĩa vụ cho Cộng sản. Không cầm súng đi xâm lược Kampuchia. Nếu bị bắt buộc cưỡng chế thì thanh niên miền Nam hãy đoàn kết lại, quay súng bắn vào đầu bọn chỉ huy Cộng sản, rồi tìm đường rã ngũ, vượt biên tìm tự do, tổ chức lực lượng kết hợp để đấu tranh.

5- Mặt Trận kêu gọi các quốc gia, các dân tộc yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới hãy ủng hộ nhân dân Việt Nam, lên án Cộng sản Hà Nội và buộc Hà Nội phải rút quân ngay về miền Bắc theo thỏa hiệp được ký và trả lại nguyên trạng cho miền Nam Việt Nam.

6- Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước cương quyết đấu tranh từ trong nhà tù cho đến bên ngoài xã hội bằng mọi cách, mọi hình thức cho đến khi nào Cộng sản Hà Nội phải chịu nhượng bộ nhân dân miền Nam Việt Nam. Mặt Trận kêu gọi: Vì Tổ Quốc, vì Dân Tộc Việt Nam sinh tồn, hãy đoàn kết lại”.
Làm tại trại giam Bình Điền
Tháng 2 năm 1979

Đồng Chủ tịch:
Phạm Bá Vịnh V184.
Trần Quang Miễn M113.
Phạm Hữu Lập L48.

Theo anh Phạm Bá Vịnh, bản cương lĩnh trên đã được chuyền tay qua 5 phân trại và cả ra ngoài xã hội theo đường dây thăm nuôi. Cũng theo anh Vịnh, để chuẩn bị kế hoạch tổ chức vượt trại tập thể của các toán đi khai thác gỗ, ban hành động gồm ba người, viết lên lời kêu gọi nội bộ anh em trong trại gồm 4 điểm như sau:

1- Năng tập luyện thể dục mỗi buổi sáng để giữ gìn sức khỏe.

2- Chú ý đọc báo của Cộng sản hàng đêm, từ đó suy diễn ngược vấn đề để hiểu biết và nắm vững tình hình biết chuyển bên ngoài.

3- Khi lao động bên ngoài, nếu gặp đồng bào và có điều kiện nên nói nhanh với họ cố gắng vận động bà con đòi Cộng sản thả chồng con đang bị “học tập cải tạo”.

4- Khi nào có anh em trong trại bị đau nặng, các đội thay phiên nhau cử hai người đến trực để săn sóc bạn, đồng thời tất cả đều đề nghị ban lãnh đạo trại phải đưa đi bệnh viện cứu cấp.

Anh Phạm Bá Vịnh còn cho biết, sự việc đang tiến hành thì bị tên tù phản bội Nguyễn Văn Lập, một Cảnh sát viên, muốn lập công nên báo cho tên cán bộ trực trại là Lê Văn Năm. Công việc vì thế bị bại lộ. Người đầu tiên bị bắt là anh Trần Quang Miễn, ngày 1 tháng 5 năm 1979. Qua hai ngày sau đến lượt các anh Phạm Bá Vịnh và Phạm Hữu Lập. Tất cả bị đưa đi giam ở 3 chỗ khác nhau để tiện điều tra khai thác.

Những ngày kế tiếp, lần lượt anh em trong trại bị kêu lêu để cật vấn nhưng không một ai dính líu vì cả ba anh nhất định không chịu khai ai cả, chỉ nhận là do chính họ chủ xướng mà thôi. Những anh bị bắt lên tra hỏi thời gian này gồm: Hồ Đình Chữ, Lê Đình Cai, Phạm Xuân Hiến, Lê Thê, Nguyễn Châu, Trần Tấn Việt, Thái Phi Long. Riêng anh Lê Văn Lập, Thiếu úy Cảnh sát, người nằm cạnh anh Miễn, bị bọn công an quy tội bao che tổ chức, biết mà không báo cáo. Chúng trói anh Lập dẫn đến trước mặt anh Vịnh và đánh đập thật dã man vào một buổi trưa lúc giờ ăn cơm. Anh Lập sau đó dùng dây treo cổ tự tử nhưng may mắn anh em phát hiện kịp thời và cứu được.

Chỉ đến khi chúng bắt thêm anh Nguyễn Trọng Tường, sĩ quan Chiến tranh Chính trị TQLC, anh Phạm Bá Vịnh mới cảm thấy bàng hoàng. Anh Tường bị lộ vì nguyên xấp tài liệu do chính tay anh Vịnh soạn thảo bây giờ bị tên Trung tá Trưởng phòng Chấp pháp Ty Công an Bình-Trị-Thiên ném chình ình xuống mặt bàn, nơi anh Vinh đang bị xét hỏi.

Phần anh Trần Quang Miễn, sau khi bị bắt, chúng dẫn anh đến trói tại cái cột “phô-tô” của sân đá banh trại. Vốn là một người gan lì và khí phách, không hề khiếp sợ ngay cả khi đối diện trước họng súng tàn bạo của kẻ thù, lúc tên Trung tá trại trưởng Trần Văn Hương đến muốn dụ dỗ anh để khai khác, anh không ngần ngại phun một bãi nước bọt vào mặt nó làm tên này bàng hoàng sửng sốt. Dĩ nhiên, cũng như các anh Vịnh, Lập, Trường, anh bị chúng đánh nhừ tử và sau đó tống vào nhà biệt giam. Bọn cai tù coi các anh không khác gì con vật. Chúng tra tấn các anh đến ngất xỉu, tạt nước lạnh buộc các anh tỉnh lại rồi tiếp tục hành hạ. Chúng trút lên thân thể các anh những đòn thù tàn bạo không một chút xót thương. Bọn Cộng sản mới chính là những con dã thú mà ngay cả những con thú đôi khi cũng không đối xử với đồng loại của mình như vậy!

Sau khi vụ này xảy ra, bọn giám thị ra lệnh cho toàn trại ngưng lao động. Chúng dồn hết anh em lên hội trường để nghe chúng lên án và sau đó bắt anh em học tập để rút kinh nghiệm. Tiếp theo chúng tìm cách phân tán các anh trong nhóm. Anh Trần Quang Miễn đưa sang giam ở Trại 2; anh Phạm Hữu Lập về Trại 3; anh Nguyễn Trọng Tường vào Trại 1 và anh Phạm Bá Vịnh nhốt ở Trại 5. Tất cả đều bị cùm cả tay lẫn chân tại khu biệt giam trong vòng một tháng. Sau thời hạn một tháng, tay được tháo còng nhưng chân thì vẫn giữ, ròng rã suốt ba năm. Đến năm thứ ba, bọn công an chấp pháp đến trại và lần lượt gọi các anh lên lấy cung. Bản cung của anh Phạm Bá Vịnh phải làm tới 4 lần vì anh không chịu ký nhận những điều mà anh cho là chúng áp cung.

Cuối cùng tới bản thứ tư, sau khi nghe chúng đọc bản cung, anh đòi tên công an trao cho anh tờ giấy, chính mắt dò lại từng chữ trong văn bản mới chịu đặt bút ký. Tên Đại úy chấp pháp Hoàng Huy Huề tuyên đọc bản cáo trạng và hỏi anh:

- Anh đã vi phạm điều 16 của bản hiếp pháp Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và điều 19 của bản hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ty Công an Bình-Trị-Thiên khởi tố anh lên tóa án nhân dân và đã được phê chuẩn. Anh có điều gì muốn nói không?

Anh Vịnh trả lời:

- Hai điều 16 và 19 của 2 bản hiến pháp đó tôi không hề vi phạm vì tôi là công dân nước Việt Nam Cộng Hòa. Việc các ông đưa tôi ra tòa án, tôi sẵn sàng chờ đợi. Chỉ có ở tòa án, chúng tôi mới có cơ hội để nói.

Nhưng cái cơ hội đó anh Vịnh chẳng bao giờ được thấy. Mãi đến ngày 2 tháng 9 năm 1982, anh được đưa ra khỏi nhà biệt giam để đưa vào khu nhà ri, tức nhà giam tập thể, được bọc thêm một lớp hàng rào kẽm gai nữa. Sau đó, anh được chuyển từ Trại 5 sang Trại 1 và được xung vào đội nhà bếp vì sức khỏe kém. Tuy vậy cũng chỉ kéo dài được 5 tháng thì anh kiệt sức, không thể làm việc được nữa. Hậu quả những trận đòn thù trên thân thể khiến anh vị viêm phế quản, vì không thuốc men, lâu ngày dẫn đến bệnh phổi trầm trọng. Anh phải vào nhà cách ly.

Sáng Chủ nhật ngày 10 tháng năm 1988, anh Phạm Bá Vịnh mới được phóng thích về đoàn tụ với gia đình.

Còn anh Phạm Hữu Lập, với ký hiệu L48 trong bản tuyên ngôn nói trên, anh bị bắt và giải qua Trại 2. Anh Lập nói với tôi, lúc anh Miễn đang ngồi viết bản cương lĩnh của Mặt Trận thì anh ngồi gác một cửa, một cửa anh Vịnh canh. Không ngờ tên cán bộ Năm thình lình xuất hiện bước ngay vào lán khiến 2 anh không kịp báo động. Thế là anh Miễn bị bắt tại trận cùng với bản cương lĩnh vừa viết xong là tang chứng không thể chối cãi.

Sau đó 2 anh cũng bị bắt luôn. Khi bị chất vấn, anh Lập dứt khoát từ đầu đến cuối, trước sau như một, anh trả lời tên chấp pháp Huề, anh chỉ cho anh Miễn mượn cấy viết. Dù là một trong những thành viên của Mặt Trận nhưng anh không hề góp phần vào việc soạn thảo cương lĩnh. Mặc cho chúng tra khảo đánh đập cỡ nào, anh cắn răng chịu, giữ vững lời khai.

Không khai thác được gì thêm, bọn công an đành phải tống anh vào nhà ri. Chúng nhốt anh với cả chân tay trong còng suốt gần 4 năm trời.

Cuối cùng anh Phạm Hữu Lập cũng được trả tự do năm 1988, cùng năm với 2 anh Phạm Bá Vịnh và Trần Quang Miễn.





Anh Phạm Bá Vịnh, đảng viên Đại Việt Cách Mạng, người đã ký tên vào Bản Tuyên Ngôn của Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước với ký hiệu V148.











Anh Phạm Hữu Lập, Cựu SVSQ/K8 Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, người đã ký tên vào Bản Tuyên Ngôn của Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước với ký hiệu L48.






2. Vụ thứ hai: Thiếu tá Võ Đằng Phương, biểu tượng bất khuất kiêu hùng của một sĩ quan QLVNCH.

Nói đến các cuộc bạo động trong tù, chúng ta không thể quên được “Vụ 20 tháng 4 năm 1979” xảy ra ở phân trại 4, trung tâm cải tạo Bình Điền, tỉnh Thừa Thiên. Vụ này do một ban tham mưu gồm 9 sĩ quan QLVNCH chỉ huy toàn thể 500 tù nhân trong trại vùng dậy, đòi cải cách chế độ lao tù như tôi đã đề cập ở trên.

Sau vụ này, nhiều anh em tù nhân đã bị bọn công an đánh đập một cách tàn bạo đến gãy xương, trào máu, bầm gan, tím ruột. Nhiều sĩ quan đã bị chết trong tù sau những trận đòn dã man như Đại úy Nguyễn Văn Báu, Đại úy Nguyễn Thuận Cát, Thiếu úy Trần Hữu Sơn. Còn tất cả 9 sĩ quan trong ban tham mưu nói trên đều bị cùm cả tay lẫn chân gần 5 năm trời trong khu biệt giam. Nếu ai có ở tù tại phân trại 4 thuộc trung tâm cải tạo Bình Điền lúc bấy giờ (20 tháng 4 năm 1979) mới chứng kiến được cảnh bọn công an thuộc Ty Công an Bình-Trị-Thiên lên đàn áp tù nhân bất chấp cả Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền. Chúng đã đánh đập dã man anh em tù liên tục không mệt mỏi. Sau vài tiếng đồng hồ, bọn “thợ đấm” công an rút đi để lại 50 tù nhân nằm rải rác, quằn quại rên la trên vũng máu như các anh Nguyễn Văn Thiện, anh Đôn, Nguyễn Văn Vy, Nguyễn Hữu Ái, Nguyễn Trung Việt và anh Nguyễn Hữu Tứ… y như cảnh một bãi chiến trường.

Chứng kiến cảnh tượng này, anh em tù nhân trong trại vô cùng xúc động nhưng đành phải ngậm đắng nuốt cay.

Có một sĩ quan trong phân trại 4 lúc bấy giờ, đã ghìm cái xúc động đó, chuyển thành mối căm hận trong lòng. Mang trong mình dòng máu anh hùng, bất khuất, kiên cường của Lê Lợi, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng…, nhớ lại lời thề sẵn sàng hy sinh vì Quốc Gia Dân Tộc, vì lý tưởng Tự Do, đặt Trách Nhiệm, Danh Dự và Tổ Quốc trên hết… anh nguyện dấn thân lao vào cuộc chiến mới ngay trong ngục tù Cộng sản. Anh thề sẽ tiếp tục nuôi dưỡng ý chí đấu tranh đến giọt máu cuối cùng, ngõ hầu mang vinh quang về bồi đắp cho quê mẹ, tô thắm non sông. Bởi vì anh hiểu, chân lý dù có bị đè bẹp xuống dưới bùn lầy nước đọng, rồi cũng có lúc ngóc đầu dậy mỉm cười với trời xanh, bất chấp cả thời gian lẫn không gian. Cho dù anh có thể bị đọa đày trong kiếp tù tội thêm 10 hay 20 năm đi nữa, cho dù anh có thể bị xử bắn theo luật rừng, anh vẫn hiên ngang đứng lên bảo vệ chân lý đến cùng, không một chút nao núng. Người sĩ quan đó là Thiếu tá Võ Đằng Phương, thuộc Lữ Đooàn 258 TQLC của QLVNCH.

Nhận thấy Cộng sản đã đối xử quá tàn tệ với tù nhân qua chế độ lao tù trong các “trại cải tạo”, sự phân biệt còn nhắm vào thành phần gia đình vợ con họ cũng như các viên chức thuộc chính phủ VNCH trước đây. Nhận thấy sau khi chiếm được miền Nam, bọn Cộng sản còn cổ xúy chiến tranh gây hấn xâm lấn Kampuchia khiến hàng vạn con em dân Việt phải chết chóc đổ máu vô ích, chỉ vì tham vọng của bọn đầu sỏ Bắc Bộ Phủ. Nhận thấy Cộng sản không chịu thực thi những điều cam kết trước đây mà còn tiếp tục đưa nhân dân đến chỗ đói khổ sau hơn 10 năm chiếm đóng miền Nam… Thiếu tá Võ Đằng Phương, dù đang còn trong ngục tù Cộng sản, quyết định viết một lá thư gởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, yêu cầu ông ta giải tỏa các vấn nạn trên.

Lúc viết lá thư, anh Phương đã ở tù hơn 10 năm rồi. Đại khái, anh đại diện cho nhân dân Việt Nam yêu cầu chính phủ Hà Nội xét lại chính sách cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Chính Đại úy Nguyễn Đình Khương, Tiểu đoàn phó TĐ120 ĐPQ, người đã tham gia vụ 20 tháng 4, bị Cộng sản cùm gần 5 năm mới thả ra đã được anh Phương móc nối để cùng nhau thảo nên bức thư đó. Lúc anh Khương được đưa từ phân trại 2 về phân trại 1 thuộc trung tâm Bình Điền, anh Khương ngủ sát chỗ anh Phương. Chỗ ngủ của tù lúc đó chỉ rộng khoảng 45 phân, mọi người khi ngủ phải nằm nghiêng mới đủ chỗ. Lợi dụng điểm này, ban đêm, hai người chỉ giăng một cái mùng và ngủ chung để tiện việc bàn thảo về nội dung bức thư. Sau đây là nội dung bức thư viết gửi cho Phạm Văn Đồng:

“……………………………………………………………

Xét rằng:
1. Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, tất cả các sĩ quan QL/VNCH đều bị bắt giam trong các “trại cải tạo” mà không được xét xử, không tuyên án. Đây là một hành động vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris năm 1973 mà chính các ông đã ký kết.

2. Tất cả sĩ quan QL/VNCH trong các “trại cải tạo” trên khắp lãnh thổ Việt Nam đều bị đối xử tồi tệ, vô nhân đạo. Đó là một sự trả thù hèn hạ, thấp kém, điên cuồng, mất cả tình người, không đếm xỉa gì đến bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

3. Gia đình vợ con của tất cả sĩ quan QL/VNCH cũng bị đối xử quá tồi tệ:

- Họ bị đày lên rừng thiêng nước độc để sống trong các vùng mệnh danh là “Kinh tế mới”.

- Tất cả những nhà cửa, tài sản của nhân dân miền Nam bị tước đoạt một cách công khai trắng trợn.

- Con cái của các sĩ quan trong chế độ cũ đều bị cấm vào học ở tất cả các trường vì bị coi là con của ngụy. Lý lịch ba đời bị gán cho những thành phần này khiến cho con cháu họ không thể làm bất cứ việc gì để sinh sống được.

4. Sau hơn 10 năm đất nước Việt Nam được thống nhất, nhân dân Việt Nam vẫn còn đói rách, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Chiến tranh vẫn chưa chấm dứt, hòa bình vẫn chưa xuất hiện trên đất nước Việt Nam. Sự tự do dân chủ vẫn chưa được thực thi. Nhân dân Việt Nam vẫn sống trong lo âu, sợ hãi. Điều này chứng tỏ đảng và nhà nước đang thi hành một chính sách sai lầm hoàn toàn.

Nay yêu cầu đảng và nhà nước:

- Thả ngay lập tức tất cả các sĩ quan và những nhân viên của chế độ cũ đang bị giam cầm trái phép và phải đối xử nhân đạo theo bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế.

- Hãy đối xử nhân đạo và bình đẳng với vợ con, gia đình của tất cả sĩ quan và những viên chức trong chế độ cũ trước đây.

- Xét lại toàn bộ đường lối, chính sách của đảng và nhà nước để toàn dân được cơm no áo ấm và được sống trong một nước hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ thực sự:

* Thực thi hòa giải hòa hợp dân tộc.

* Phục hồi lại nền kinh tế.

* Chấm dứt chiến tranh.

* Giải tỏa lệnh bế quan tỏa cảng thông thương với nước ngoài.
Làm tại Bình Điền ngày 19 tháng 6 năm 1985
Ký tên: VÕ ĐẰNG PHƯƠNG
Chủ tịch Lâm thời
Phong trào Thiết lập nền Đệ Tam Cộng Hòa


Viết xong bức thư, anh Võ Đằng Phương có mời một số sĩ quan đã tham gia vụ 20 tháng 4 năm 1979 cùng ký vào bức thư trên. Nhưng rồi nghĩ lại, các anh này vừa tham dự một trận chiến trong ngục tù quá khốc liệt, phải để các anh ấy nghỉ dưỡng quân một thời gian đã, nên anh quyết định ký một mình. Anh viết thêm 2 bản nữa thành 3 bản: một gởi cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhờ trưởng trại chuyển giao, một bản gởi cho tên trưởng trại nhờ cán bộ trực chuyển giao và một bản lưu lại.

Sau khi tên Trung tá Trần Văn Tuyền, trại trưởng trung tâm cải tạo Bình Điền nhận được bức thư nói trên, anh Võ Đằng Phương bị bọn công an xuống cùm ngay và đưa vào nhà kỷ luật khoảng 3 tháng trước khi đem ra tòa xét xử. Dĩ nhiên bức thư đó là một bản án chống chế độ Cộng sản Hà Nội một cách rõ rệt nên ban giám thị trại đã họp bàn với Ty Công an Bình-Trị-Thiên và đi tới quyết định đưa anh ra xét xử trước tòa án nhân dân.

Đứng trước vành móng ngựa, Thiếu tá TQLC Võ Đằng Phương đã trả lời một cách khẳng khái và hùng hồn khiến ai nấy đều cảm phục. Một số nhân viên làm việc trong tòa án đã bỏ dở công việc để chạy vào xem vì thấy “bị cáo” là một mẫu người thật khác thường. Cứ mỗi lần tòa hỏi câu nào, anh Phương không trả lời trực tiếp, anh giả bộ nói loanh quanh để chửi xéo chế độ độc tài đang tác yêu tác quái trên đất nước Việt Nam.

Có lần anh đã phát biểu như thế này:

- Tôi nói đây với tư cách của người dân bình thường, nói lên tiếng nói mà những người chung quanh tôi, bạn bè tôi, nhân dân Việt Nam không dám nói. Tôi nói có tình có lý chứ không phải xử dụng biện pháp quân sự để đàn áp.

Nghe như vậy, tên quan tòa nói ngay:

- Anh chỉ là một thằng sĩ quan ngụy không hơn không kém, anh là cái thá gì? Một triệu quân ngụy cộng thêm bọn lính chư hầu còn thất bại nói gì một mình anh!

Qua một lúc sau, anh Phương lại hiên ngang:

- Các ông làm gì có luật pháp. Luật của các ông là luật rừng. Tôi đã nằm trong tay các ông thì do các ông quyết định.

Thấy những lời lẽ hùng hồn của “bị cáo” gây bất lợi cho phiên tòa, tên quan tòa liền giơ tay ra lệnh cho “bị cáo” nói câu cuối cùng trước khi định án. Biết chúng đã cố ý không cho anh nói nữa vì bản án đã được sắp xếp sẵn. Phiên tòa chỉ là hình thức cho có vẻ công bằng để bị cáo có cơ hội biện bạch. Nhưng anh đâu có ý biện bạch chạy tội. Anh cũng chỉ muốn lợi dụng cơ hội này để vạch trần và tố cáo tội ác của Cộng sản Việt Nam trước dư luận quốc tế. Suy nghĩ thật nhanh trong đầu, anh Võ Đằng Phương cô đọng những điểm cần nhấn mạnh và dõng dạc trước tòa:

- Ai là kẻ vi phạm Hiệp Định Paris 1973?

- Ai là kẻ gây ra chiến tranh và nghèo đói?

- Phạm Văn Đồng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc xé bỏ Hiệp Định Paris. Rồi đây nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân thế giới đều biết lời nói của tôi trước tòa án này…

Anh đang thao thao thì tên quan tòa gõ cái búa xuống bàn, đứng phắt dậy tuyên bố chấm dứt phần xét xử để vào trong nghị án. Sau khi nghị án, trở ra, quan tòa tuyên án anh Phương 10 năm tù ở với tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân”. Thời gian bắt đầu thụ án tính từ ngày anh Phương thi hành xong án “tù cải tạo”.

Theo lời anh Nguyễn Kim Chung, Đại úy TQLC, người cũng có mặt trong phiên tòa với tư cách bị cáo vì nghi ngờ có liên hệ trong vụ án, khi nghe đọc bản kết tội, anh có nhận định đây là một bài luận văn được viết sẵn từ trước. Việc xét xử chỉ có tính cách hình thức để đánh lừa dư luận quần chúng mà thôi.

Như vậy, từ năm 1975 đến năm anh bị đưa ra tòa, anh đã ở tù được 10 năm. Giả sử anh Phương được nhà nước “khoan hồng” phóng thích vì “tiến bộ, học tập tốt, lao động tốt” (theo cách nói của Việt Cộng) trong “cải tạo”, thì anh sẽ tiếp tục thụ án thêm 10 năm nữa là 20 năm. Thế nhưng, chắc chắn với thành tích “bất hảo vì chống đối” này, thời hạn tù cải tạo chưa biết đến chừng nào mới chấm dứt! Vậy thì tổng cộng anh sẽ phải chịu bao nhiêu năm đây? Thật là khôi hài cho nền luật pháp xã hội chủ nghĩa!

Anh bị đưa trở lại Trại Bình Điền để tiếp tục cuộc sống tù đày với hai tay còn trong còng. Tên trại trưởng làm ra vẻ thương hại khuyên anh nên nhún nhường hơn, biết điều hơn để có thể sống còn mà hy vọng ngày về. Anh Phương quát vào mặt nó:

- Ông đừng có bày đặt dạy đời tôi. Ông có học lịch sử Việt Nam, có biết Trần Bình Trọng không? Tôi muốn sống và chết như Trần Bình Trọng.

Dĩ nhiên Thiếu tá Võ Đằng Phương tiếp tục ngồi tù thêm. Cũng may là còn có thời hạn. Nhờ sự thỏa hiệp của Mỹ với bọn Cộng sản Việt Nam, số phận những người tù cải tạo đã được giàn xếp. Năm 1995, anh Phương cũng được ra khỏi nhà tù Hàm Tân. Trở lại quê nhà, anh bị bạo bệnh kéo dài, hậu quả những đòn tra tấn dã man độc ác, qua những năm tháng quằn quại trong ngục tù, giờ đây đã hành hạ cái thân xác còm cõi của anh để rồi ít lâu sau anh phải vĩnh biệt cõi đời trong tức tưởi nghẹn ngào. Thù nhà, nợ nước anh vẫn chưa trả xong thì anh đã vĩnh viễn ra đi!

Qua những hành động đầy kiên cường và bất khuất của Thiếu tá Võ Đằng Phương nói trên, ta thấy rằng sĩ quan QL/VNCH là thành phần ưu tú của dân tộc Việt Nam. Ngay trong ngục tù Cộng sản, họ vẫn hiên ngang, luôn biểu lộ tinh thần Danh Dự, Tổ Quốc và Trách Nhiệm.

Anh Võ Đằng Phương đúng là một sĩ quan gương mẫu đã vị quốc vong thân.

Tổ Quốc và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mãi mãi vinh danh và ghi ơn anh.



       



Xoá hình nền                                                       Tăng độ chữ

Đăng Bài Mới    Góp Ý Kiến   
phpBB - Creating Communities
Vista theme by HelterSkelter © 2007 ForumImages
Vista images © 2007 Microsoft