Trại Ái Tử và Bình Điền (Tiếp theo)

CHƯƠNG 6

Văn hóa và văn nghệ


Nhằm kiểm soát và theo dõi tư tưởng của đám tù cải tạo, bọn giám thị thỉnh thoảng tổ chức những đợt thi đua giữa các khối, đội, tổ, trong những dịp lễ, Tết… Chúng bày ra trò viết “báo tường” (bích báo), trình diễn văn nghệ, buộc anh em tù phải sáng tác. Chúng làm như rất quan tâm đến sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của anh em cải tạo viên. Thực chất, qua đó nắm được những ai còn lập trường, tư tưởng “phản động”, cố tình chống lại chế độ.

A. VĂN HÓA

Nói đến văn hóa trong trại tù cải tạo là nói đến sáng tác nhạc, làm thơ, viết truyện ngắn. Hầu hết anh em văn nghệ sĩ đều tỏ ra chán chường không muốn làm gì cả. Hơn nữa, mọi sáng tác đều phải theo những khuôn mẫu do ban giám thị trại đề ra, nên chả ai có hứng thú.

Nội dung của sáng tác đều hướng về ca ngợi chủ nghĩa Mác-Lê, đề cao vai trò của đảng Cộng sản Việt Nam, sự lãnh đạo anh minh của “bác” Hồ vĩ đại… Lúc còn ở Trại Ái Tử, ban đầu không ai chịu sáng tác gì. Thấy vậy, ban giám thị ra lệnh buộc mọi người phải nộp bài. Nếu không, phải có lý do. Nếu lý do không chính đáng, phải làm kiểm điểm.

Cái lệnh quái ác này ban ra, anh em thật nhức đầu. Sau cả ngày lao động mệt nhọc, tối về lại phải động não để “rặn” ra sáng tác. Tâm trí đâu mà làm “thơ với thẩn”, mà viết “truyện với tình”. Dầu muốn dầu không, anh em vẫn buộc lòng mà viết cho có lệ, để khỏi bị làm khó dễ, để không bị theo dõi.

Gần như 99% anh em trong trại đều làm thơ với những bài có nhiều nhất là 4 câu! Làm thơ tốn ít thời giờ suy nghĩ hơn là viết truyện ngắn. Chỉ cần 4 câu là thành một bài thơ rồi. Hàng loạt thơ “con cóc” kiểu này ra đời trong trại tù cải tạo. Nói vậy thôi chứ có nhiều anh cố nặn nát óc cũng không làm được một bài thơ “con cóc” kiểu này. Nhiều anh lại làm rất hay, mục đích tạo bức bình phong, để đánh lừa bọn cán bộ trại, che đậy những tư tưởng chống Cộng mạnh mẽ của mình. Có anh lại tài tình dùng thơ văn để chứi khéo chế độ mà chúng không thể ngờ được.

Một số anh, khi được lệnh sáng tác, đã chạy lại nhờ tôi giúp. Từ chối mãi cũng phật lòng anh em, tôi cố gắng làm hộ ít người. Họ năn nỉ, chỉ cần viết đại 4 câu thơ gì đó là được rồi. Đại khái, về chủ đề mùa Xuân, tết đến, tôi cầm bút “vẫy vùng” tưới hột sen, những câu có dính líu tới hoa nở, bánh chưng bánh tét, mứt trà, pháo nổ đì đùng v.v… là ổn, không cần niêm luật bằng trắc con mẹ gì hết! Có ai chấm điểm đâu mà sợ. Chỉ cần vài phút, tôi quất xong 7 bài cho 7 người trong tổ! Làm xong, tôi lặng lẽ trao lại cho họ để họ chép lại và đề tên mình vào.

Riêng anh Đơn, tổ trưởng, có lẽ vì tự ái nên tự làm lấy. Sau đó anh ta bảo mọi người nộp lại và đọc lên cho cả tổ cùng nghe, trước khi đem nộp cho cán bộ. Anh giao cho tôi đứng lên đọc. Tôi bắt đầu:

- Đây là bài thơ của anh Trần Kiêm Quy.

Rồi tôi đọc to bài thơ tôi vừa sáng tác cho anh. Kế đó, tôi đọc bài của anh Hồ Văn Chạnh, rồi Lê Bá Tần, Nguyễn Văn Thiện. Như đã nói, tất cả đều do tôi phóng bút, nên khi đọc, tôi cố nhịn cười. Liếc sơ một vòng anh em trong tổ, tôi thấy họ cũng đang cố mím môi để khỏi phát ra tiếng khúc khích từ trong bụng. Họ và tôi đều không dám cười vì sợ, biết đâu trong tổ có tên “ăng-ten” nào đang rình rập sơ hở để thọc lên cán bộ.

Riêng anh Hồ Mãng, Tiểu đoàn trưởng ĐPQ, khi nghe trại bắt nộp bài, anh chạy đến tôi than thở:

- Điền ơi! Làm giùm tao một bài thơ đi chứ tao đầu hàng vô điều kiện. Bảo tao gánh một gánh củi thì còn được, chứ làm một bài thơ thì tao đành bó tay.

Anh Mãng vừa dứt lời thì anh Trần Văn Lâm, sĩ quan Truyền tin, cùng đội nhưng khác tổ, cũng chạy đến cầu cứu:

- Nhân tiện, làm cho mình một bài nhe! 4 câu cũng được.

Cầm lòng không đậu, tôi cầm bút tính viết mấy câu cho cả 2 anh. Đang suy nghĩ xem sẽ viết gì, chợt trong đầu tôi nảy ra ý tưởng: tại sao mình không chép lại mấy bài thơ mình đã làm cho mấy anh em trong tổ, dại gì suy nghĩ cho mệt óc. Thế là chớp nhoáng, tôi “sao y bản chánh” 2 bài đã làm cho mấy anh cùng tổ, trao cho họ, tôi bảo đề tên vào. Họ mừng quá, chạy về tổ của mình để nộp bài cho kịp.

Trưa hôm ấy, vừa ngủ dậy, anh Lâm kêu tôi qua, trao cho tôi một chén xôi và một cái đùi gà và nói:

- Thưởng cho Điền về bài thơ đó.

Tôi nở một nụ cười thay cho lời cám ơn và đem về chỗ, vừa ăn vừa nghĩ thầm: “Không ngờ, làm một bài thơ con cóc mà cũng có xôi và đùi gà để ăn”. Cũng may, hôm đó là ngày thăm nuôi nên tôi mới có lộc hậu hĩ như vậy!

Buổi chiều, khi đi ngang qua phía sau lán của Khối 1, nghe từ trong vọng ra một giọng nói, giống như giọng anh Nguyễn Tri Tấn:

- Xong một bài. Đứa nào nữa tới đây. Một bài thơ, một điếu thuốc.

Thì ra đây là tình trạng chung. Anh em đều mệt mỏi vì lao động quá sức, chẳng ai còn tâm trí để động não viết văn, làm thơ. Sẵn sàng đổi chút vật chất để có bài nộp còn hơn bị kiểm điểm. Dầu vậy, một số anh, tinh thần vẫn còn minh mẫn. Các anh này, chịu khó làm thơ đúng vần, đúng niêm luật, sắp xếp chữ nghĩa khôn ngoan, khéo léo xử dụng tài năng của mình để chửi xéo chế độ. Chẳng hạn một bài thơ thuộc thể thất ngôn bát cú, lâu ngày quá, tôi không còn nhớ nội dung cũng như tên người sáng tác. Nhưng tôi nhớ rất rõ, tác giả đã khéo léo sắp xếp, mỗi chữ đầu của từng câu, nếu đọc theo thứ tự hàng dọc từ trên xuống dưới sẽ thành: không-có-tự-do-quý-gì-độc-lập. Cuối cùng thì bọn cán bộ cũng nhận ra và kêu anh này lên “làm việc” rồi bắt anh làm tờ kiểm điểm.

Sau khi qua Mỹ, tôi mới biết bài thơ này của anh Lê Văn Can, người đã cùng anh Châu Đức Thảo trốn trại lúc ở Ái Tử. Ngoài bài thơ của anh Can, còn một bài nữa của anh Bùi Tùng, cựu Thiếu tá, cùng ở Trại Ái Tử với tôi. Nhân một dịp thi đua chào mừng ngày lễ lớn gì đó của Việt Cộng, anh Tùng có làm một bài thơ tựa đề “Hương rừng” nạp cho ban văn hóa, văn nghệ trại. Lúc tập họp lên hội trường, tên cán bộ Quyện đem bài này ra phê bình, cho rằng anh Tùng có tư tưởng lập lờ, không tốt, bắt anh phải làm tờ kiểm điểm sau đó. Bài thơ này, anh Bùi Tùng đã sáng tác năm 1976, nội dung như sau:

HƯƠNG RỪNG

Sáng tinh sương, dậy đi rừng
Đất trời bừng sống, đỏ vàng dễ thương
Mưa đêm, rủ sạch bụi đường
Thơm mùi đất mới, chập chùng sắn khoai
Đi rừng, may mắn làm ngoài
Bao la non nước, tình người bao la
Non sông gấm vóc, nước nhà
Tổ tiên truyền thống, cho ta nối dòng
Hôm nay nắng ráo, sáng trong
Một ngày ta tính, cho xong một ngày
Đến rừng, tôi mở cửa rừng
Ngo ngoe vắt đỉa, chào mừng khách sang
Thuốc men, đâu có dễ dàng
Con vắt quen máu, chẳng màng hỏi han
Trại viên, theo việc đã ban
Họp bàn đêm trước, ai làm cái chi
Tôi, năm sáu khúc đòn tay
Hôm nay được nhẹ, hơn ngày hôm qua
Sương mai, ướt lạnh thấm da
Đất rừng chưa ráo, chân ba bốn đường
Khu rừng, địa đạo đường mương
Thấp cao mồ mả, bia còn lưa thưa
Rừng là, bạn quý của ta
Trước kia len lỏi, vô ra nhiều lần
Dù cho, đất đá hao mòn
Suối khô hạn hán, vẫn còn gốc cây
Dù cho, mưa nắng đêm ngày
Khu rừng vẫn thế, chẳng xoay mặt nào
Có tôi, trong lớp phong trào
Âm vang thác đổ, dội vào tâm tư
Nghỉ tay, dừng lại ăn trưa
Nắm cơm bới xách, vẫn chưa nản lòng
Coi như, tôi đã sang truông
Bỏ thân chiến địa, xác cuồng Chu Lai
Đảng cho, sống lại làm người
Dạy tôi cuốc đất, biết hai con đường
Biết ai, lật lọng láo lường
Biết ai bóc lột, thiên đường là đâu
Đảng cho ta, trái tim giàu
Biết thời biết thế, biết cầu biết cơ
Biết công bằng, biết ước mơ
Biết nhìn tôn giáo, biết thờ ai chăng
Biết lao động, biết nói năng
Biết tranh đấu tố, biết cần tự do
Trại viên, từng toán đã xong
Theo sau cán bộ, dẫn đàng về khu
Khu tối, còn lắm âm u
Mới thay đổi trại,phải tu bổ nhiều
Đường rừng, lộng gió vi vu
Nắng ran đoàn đội, trung du đào hồ
Khai hoang, phục hóa đắp bờ
Phá rừng làm rẫy, lập khu dinh điền
Đường leo, dốc núi theo triền
Gặp cô con gái, ngẫu nhiên tôi chào
Muốn xin, chút nước giải lao
Đi qua tôi vấp, muốn vào lại thôi
Giá như, cuốc gẫy nàng ơi
Cây rừng xin tặng, trao lời nước non
Rừng thiêng nước độc, tuổi son
Lạc quên tuổi trẻ, tâm hồn chông gai
Sắn khoai, lấy ngắn nuôi dài
Kéo dai cuộc sống, cho đời về sau
Vô tình, nàng lại dừng tay
Vô tình, tôi lại dựng cây bên đường
Má nàng, âu đỏ lạ thường
Chứa chan tình cảm, chán chưa nỗi mình
Chừ đây, non nước thanh bình
Thân nàng không ngại, bãi mìn nước non
Tuổi nàng, là tuổi mầm non
Nàng thương non nước, chân mòn gót chai
Mái tóc, còn chấm ngang vai
Áo còn mực tím, thân mai còn khờ
Chim bay, về núi ơ hờ
Chiều lên lên mãi, cây mờ xanh tươi
Tôi theo, đời mới thảnh thơi
Sống cho biết đó, biết đời biết ta
Về khu, ngồi họp phân ca
Bình bầu xuất sắc, chọn ra anh hùng
Tâm hồn, tôi vẫn mông lung
Ngày tàn gió lạnh, hương rừng về đâu?


Bùi Tùng
Sau khi vào Trại Bình Điền, anh Bùi Tùng còn làm một bài thơ nữa, cũng mang nhiều ý nghĩa, tựa đề “Gánh củi qua đồi”.

GÁNH CỦI QUA ĐỒI

Đứng trên đồi cao
Ta nhìn bốn hướng
Đông, Tây, Nam, Bắc tự hào
Nhớ ngày nào
Là cấp chỉ huy
Núi sông một cõi
Chỉ Đông, Đông tĩnh
Chỉ Tây, Tây yên
Một tiếng hô xung phong
Vang dội núi rừng
Ào ào lớp lớp
Xe pháo rộn ràng
Bầu trời chớp lửa
Ầm ầm đạn bom
Đập tan quân địch hung tàn
Ta dâng lên tổ quốc
Chiến công lẫy lừng
Giống như ngọn đồi này
Giữa hàng rào kẽm gai
Xác địch phơi thây
Hôm nay gánh củi trên vai
Tấm thân tù cải tạo
Ta ngạo nghễ, cười khinh
Lũ người kia
Ta từng vày trong tay
Đạp dưới chân
Tiềng hô ta dõng dạc
Chúng đạp lên nhau
Tìm đường thoát hiểm
Nay nhìn ta, sa cơ tù hãm
Tha hồ nói phách
Công lao ta ngày trước
Đối với kẻ thù
Trở thành tội, hôm nay
Ta với mi
Ai phải, ai sai?
Lịch sử suy xét
Ta là chiến sĩ
Đem hết sức mình
Xông pha trận địa
Cái chết như lông
Chiến thắng, yên dân một vùng
Không sao hiểu nổi
Ván bài quốc tế
Quân rã, tướng hàng
Ta bị đâm sau lưng

Những tên tù
Theo lệnh đầu hàng hôm qua
Tập trung “cải tạo”
Nặng nề gánh củi trên vai
Khuất phục kẻ thù
Im lìm nhẫn nhục
Lên đồi, xuống thẳm
Kềm kẹp hai bên
Vệ binh áp tải
Súng đạn kè kè
Dẫn tù về trại
Đi chậm, đi nhanh
Nghi ngờ ý định
Báng súng vào hông
Vừa nạt vừa xông
Nhưng, một lũ người kia
Thắng, chưa phải là chính nghĩa
Những con người nghĩa khí
Vẫn đẹp mãi về sau.

Bùi Tùng - Trại Bình Điền, Khe Điên 1987.
B. VĂN NGHỆ

Lúc mới vào Trại tù cải tạo Ái Tử, sau những giờ lao động mệt nhọc, tôi thường nằm hát đủ các loại nhạc. Nhiều khi nằm hát một mình, có lúc lại hát cho bạn bè nghe chơi để giải khuây cho qua những ngày tháng tù tội.

Đến khi ban giám thị bắt mỗi Khối phải thành lập một ban văn nghệ, anh em biết tôi hay hát, đề nghị đưa tên tôi vào. Tôi từ chối nhưng không được vì anh em biểu quyết lấy đa số, tôi phải chấp nhận. Dĩ nhiên, vì là ban văn nghệ của khối, tôi chỉ hát dăm ba bài cho anh em trong khối nghe thôi.

Khi vào Trại Bình Điền, ban giám thị bắt mỗi đội phải cử vài người gia nhập ban văn nghệ trại. Anh đội trưởng tự động ghi tên tôi vào danh sách. Thế là dù muốn dù không, tôi buộc phải tham gia.

Hầu hết anh em vào ban văn nghệ để tránh lao động nặng nhọc. Tránh được chừng nào, hay chừng nấy. Nhiều người vì sức khỏe yếu kém, muốn vào ban văn nghệ để dưỡng sức một thời gian. Thực tâm, chẳng mấy ai thiết tha gì đến văn nghệ, văn gừng, trừ một số xu thời, nịnh bợ hay bọn “ăng-ten”, muốn kiếm điểm, hy vọng được về sớm!

Bởi vậy, văn nghệ trong các trại tù cải tạo chẳng có gì hay ho, hấp dẫn cả. Đã vậy, nội dung các buổi trình diễn, lúc nào cũng được chỉ đạo bởi ban giám thị trại, rất khô khan, vì chỉ nhằm đề cao chủ nghĩa Cộng sản, ca tụng “bác” và đảng. Bản nhạc, bài thơ, vở kịch nào không đáp ứng được những yêu cầu đó sẽ bị loại bỏ ngay. Chưa kể, một số còn bị phê bình hoặc bị bắt làm kiểm điểm, tùy theo chúng suy diễn kết tội trong lúc kiểm tra trước nội dung.

Thường thường, sau mỗi lần trình diễn, ban văn nghệ phải ngồi lại, mổ xẻ rút ưu khuyết điểm. Những buổi như thế, có sự tham dự của cán bộ phụ trách về văn nghệ, luôn kéo dài vì người này buộc phải phê bình người kia. Cá nhân tôi, ít khi mở miệng, dù có mặt cán bộ cũng thế. Ban đầu, bọn chúng cũng nghi ngờ, nhưng lâu ngày chúng quen dần và cho rằng đó là do tính ít nói của tôi mà ra. Tất nhiên, đi đến kết luận như vậy, không phải là dễ dàng. Bọn cán bộ ngấm ngầm cho đám “ăng-ten” theo dõi mọi hành động của tôi suốt một thời gian dài. Tôi mặc kệ, mình không làm gì chống đối lộ liễu, có gì phải sợ. Bảo hát, tôi hát. Bảo ngưng, tôi ngưng. Bảo nhảy, tôi nhảy…

Trên thực tế, nếu có làm gì để chống lại tụi nó trong lãnh vực văn nghệ, tôi đời nào để lộ cho chúng biết. Ngay cả với những người trong ban văn nghệ, tôi cũng ít khi nói chuyện, đừng nói chi đến việc tiết lộ những vấn đề “phản động” cho họ nghe. Tôi thừa hiểu, bọn “ăng-ten” có mặt khắp nơi, mọi chỗ, nhan nhản trong trại. Ban văn nghệ cũng không ngoại lệ. Nhiều lần, tôi chơi bọn cán bộ, ngay lúc trình diễn trên sân khấu, mà tuyệt nhiên, từ anh em trong ban văn nghệ đến cả bọn cán bộ không hề hay biết hoặc nghi ngờ!

Tôi nhớ có lần anh Đinh Miên, giáo sư, nhạc sĩ, tác giả bài “Sương trắng miền quê ngoại”, bảo tôi cố gắng học thuộc bản nhạc “Bài ca 5 tấn” để lên hát chung với anh Lộc, Thiếu úy Quân báo; anh Cư, Thiếu úy Cảnh sát; anh Tín, Thiếu úy Cảnh sát. Trong bản nhạc có đoạn: “Ta lo phân, phải chăm bao đầu lợn ấy”. Thấy lời nhạc có vẻ lạ lùng vì có cả “phân” và “đầu lợn”, tôi quyết định, lợi dụng lúc đang hát, thay vì đưa tay lên xuống, qua lại, tôi chỉ tay vào ngay mặt hai tên giám thị trại trưởng và trại phó đang ngồi trước, ở hàng ghế đầu. Làm sao chúng hiểu được thâm ý của tôi? Nếu chúng bắt bẻ, tôi dư sức để biện bạch đó chỉ là những động tác nhằm diễn đạt bài hát hay thêm mà thôi! Nếu ngón tay tôi có hướng vào mặt chúng cũng chỉ là do vô tình trong khi trình diễn.

Tôi đã tính toán và chuẩn bị rất kỹ. Sắp đến đoạn “ta lo phân, phải chăm bao đầu lợn ấy”, tôi nở một nụ cười thật tươi, quay mặt sang bên phải, cười với anh Lộc, quay sang bên trái, cười với anh Cư. Đúng khi mở miệng ca cái câu độc đáo ấy, hai tay tôi vung qua lại, theo tiết nhịp của bản nhạc rồi nhanh như chớp, một tay chỉ thẳng vào mặt tên Trung tá trại trưởng Trần Văn Hương, tay kia chỉ vào tên Đại úy trại phó Trần Văn Phúc. Để giảm sự nghi ngờ, mặt tôi lại quay sang tươi cười với hai anh Cư và Lộc. Tôi cố gắng diễn cái đoạn này thật vui tươi, linh động và khi vừa dứt 3 chữ “bao đầu lợn”, tôi rút hai tay lại ngay và đưa qua đưa lại trước mặt để tránh bị nghi ngờ.

Tôi nghĩ, chắc không ai có thể phát hiện được hàm ý của tôi qua hành động diễn xuất đó. Nào ngờ, tham dự buổi văn nghệ đó có tên Trần Hữu Ái, Đại úy trưởng trại 4. Hắn có vẻ khó chịu với hành động của tôi trên sân khấu, nên cũng nhân một hôm ghé Trại 1 xem văn nghệ lần kế tiếp, tập họp anh em trong ban văn nghệ lại và cay cú đưa ý kiến phê bình:

- Có nhiều anh trong lúc hát, không chịu để ý. Khi hát cái đoạn có trâu, bò lợn không chịu đưa tay đi chỗ khác mà chỉ ngay vào chỗ chúng tôi đang ngồi xem. Các anh xem chúng tôi là trâu, bò, lợn hả?

Một lần diễn khác, một hoạt cảnh có liên quan đến biển cả, do anh Cung Trọng Thanh đạo diễn, cũng có một pha gay cấn. Nội dung, một số người đang ngồi trên một chiếc thuyền hành trình trên biển. Thấy một tàu hải quân mang cờ đỏ sao vàng đang tiến lại phía trước mặt, tất cả đều nắm tay lại rồi đưa cao lên chào. Theo dàn dựng, mỗi người trên ghe đều được trang bị một khẩu súng gỗ. Anh Thanh dặn chúng tôi, khi thấy chiếc tàu hải quân chạy tới (chiếc tàu được làm bằng bìa cứng, gắn vào màn và phía sau có người kéo để có thể di chuyển tới lui), mọi người tay trái cầm súng, tay phải nắm lại chỉ về phía chiếc tàu, miệng hô thật to 3 chữ “dô, hò, dô”. Cứ thế làm liên tục cho đến khi chiếc tàu đi xa.

Nghe dặn, tôi thắc mắc, không hiểu tại sao khi thấy chiếc tàu tiến lại, mọi người lại nắm tay lại mà chào chứ không vẫy tay. Làm như vậy, rõ ràng là đưa nắm đấm hướng về phía lá cờ đỏ sao vàng chứ chào cái quái gì! Khoan khoái với ý nghĩ này, tôi làm thật hăng say. Nắm tay thật chặt, co ra duỗi vào rất mạnh, tôi tưởng tượng mình đang phóng những cú đấm vào lá cờ máu của bọn Việt Cộng. Buổi tập dượt có mặt của ban giám thị trại và tên cán bộ an ninh Lê Văn Năm. Trên thuyền, chúng tôi gồm 3 người: anh Tín, Thiếu úy Cảnh sát; anh Ngọc, Đại úy TQLC và tôi.

Tới ngày tổng dợt, vì bận việc, anh Ngọc lên hơi trễ. Vừa tới sân khấu, anh nhảy vội vào vị trí đứng trước mặt tôi, trên cùng là anh Tín. Vì vội vàng, anh Ngọc đưa tay lên hơi yếu và sai hướng, không ăn khớp với anh Tín và tôi, tay anh cứ đụng vào tôi mấy lần. Vừa làm, anh Ngọc vừa hỏi:

- Làm sao khỏi đụng tay mày đây, Điền?

Tôi trả lời ngay:

- Mày nghiêng tay lại 45 độ, cứ nhắm hướng lá cờ đỏ sao vàng đang chạy tới, đấm thật mạnh là trúng phong phóc, khỏi đụng tay tao mà cũng không đụng tay thằng Tín.

Thế là trong khi ban nhạc tiếp tục trổi nhạc, 3 anh em chúng tôi chỉ có nhiệm vụ vung những nắm đấm mạnh mẽ về hướng lá cờ đỏ sao vàng, miệng hô to 3 chữ “dô, hò, dô”.

Cuối buổi tập dượt, ban giám thị chỉ đưa ra vài phê bình nhỏ về một số diễn xuất lặt vặt. Riêng tên Lê Văn Năm, cán bộ an ninh, nổi tiếng là con hùm xám của trại vì cách cư xử dữ dằn với tù cải tạo, đã cảm nhận thấy có gì không ổn qua màn trình diễn này nên đứng dậy lớn tiếng:

- Tôi không hiểu các anh có ẩn ý gì khi thấy tàu ta mang cờ đỏ sao vàng chạy đến, lại nắm tay đưa về phía đó. Các anh phải sửa ngay cách thức chào đó đi!

Nghe nó la lối như vậy, tôi hơi giật mình nghĩ bụng: thằng này cũng sâu sắc đáo để đây. Bản tính hung hăng đã khiến nó luôn luôn nghi ngờ mọi cử chỉ, hành động của từng tù nhân trong trại.

Thế là đạo diễn cùng tất cả anh em phải bàn bạc để sửa đổi cái màn “chào đón” này. Ba đứa chúng tôi được lệnh đạo diễn, thay vì hướng nắm đấm về phía lá cờ máu, chúng tôi phải đấm thẳng lên trời.

Ngoài tôi ra, cũng có một số anh trong ban văn nghệ, lợi dụng các buổi trình diễn như thế để tìm cách phá phách, ngầm chống lại bọn Cộng sản dưới mọi hình thức. Điển hình như anh Trần Quang Miễn, anh Phạm Bá Vịnh…

Anh Trần Quang Miễn là người cùng trong ban văn nghệ với tôi. Bề ngoài, anh đóng kịch rất hay. Anh đã từng đóng vai một tên bộ đội và tỏ ra xuất sắc trong vai diễn của mình. Trong công tác văn hóa, văn nghệ ở trại, anh luôn hăng say, nhiệt tình khiến đám cán bộ rất tin tưởng. Nào ngờ đó chính là bức bình phong anh đã dày công dựng lên để che đậy những hoạt động chống Cộng của anh, qua mắt đám cán bộ trại. Tôi sẽ có dịp trình bày về việc này trong chương kế tiếp.

Nếu trong ban văn nghệ có những người như vậy thì đối ngược, lại có những tên nối giáo cho giặc. Họ chính là đám cặn bã của xã hội, những tên phản bội lý tưởng chỉ vì một chút quyền lợi cỏn con mà họ được ban phát từ bọn cai tù.

Tôi còn nhớ, có lần mấy cô bên Trại Tây Lộc qua mượn hệ thống âm thanh và sân khấu để tập dợt văn nghệ. Lúc đó, Trại 1 cũng đang tập dợt, nhưng theo lệnh cán bộ, chúng tôi phải ngưng để nhường chỗ cho họ. Chúng tôi được tạm nghỉ và vẫn còn ở quanh quẩn trong khu vực hội trường. Trên sân khấu, một cô trong ban văn nghệ trại Tây Lộc lên ngâm một bài, không rõ người sáng tác, mà nội dung muốn nói lên những xấu xa về hai anh em ông Diệm và Nhu. Khi cô vừa ngâm tới mấy chữ Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu…, thì anh Phạm Ngộ đưa tay lên và nói với tên cán bộ đặc trách văn nghệ:

- Thưa cán bộ, tôi xin đề nghị, thay vì đọc là Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, phải đọc thằng Diệm, thằng Nhu mới được.

Mọi người trong ban văn nghệ đều sững sờ trước cái đề nghị quái đản đó. Dĩ nhiên tên cán bộ kia chấp thuận ngay.

Có một lần, bác Nguyễn Hữu Thứ, cựu Chánh nhất (?) tòa Thượng thẩm Huế, dẫn đoàn văn nghệ của Trại 2 sang Trại 1 trình diễn. Đang lúc loay hoay sắp xếp công việc, bác Thứ vô tình đụng phải một cây đàn guitare để cạnh sân khấu khiến một anh trong ban văn nghệ phải la lên:

- Thôi rồi, thầy đạp hư cây đàn rồi.

Cũng lại tên Phạm Ngộ, đứng gần đó nghe được, mở miệng thốt:

- Đã vào đến đây rồi mà không bỏ được cái tật, còn xưng hô thầy với bà!

(Còn tiếp)



       



Xoá hình nền                                                       Tăng độ chữ

Đăng Bài Mới    Góp Ý Kiến   
phpBB - Creating Communities
Vista theme by HelterSkelter © 2007 ForumImages
Vista images © 2007 Microsoft