Trại Ái Tử Và Bình Điền (tiếp theo)

CHƯƠNG 4

Ăng-ten



Nói đến “ăng-ten”, tất cả mọi người trong các trại tù cải tạo đều biết rằng, đây là những kẻ làm tay sai cho bọn cán bộ Việt Cộng trong trại. Chúng chuyên môn rình mò, nghe ngóng, theo dõi hành động của các anh em khác rồi báo cáo lại cho bọn cán bộ những hành vi “phản động” của anh em trong tù.

Trại nào cũng vậy, tên trại trưởng thường chỉ thị cho thuộc cấp, giăng một mạng lưới “ăng-ten” để phát hiện những người mà theo chúng, có những cử chỉ hoặc ngôn ngữ mang tính chất chống lại chế độ Cộng sản. Có những tên công khai làm “ăng-ten” cho Việt Cộng. Có những kẻ bị dụ dỗ. Một số khác do lòng ganh ghét bạn đồng tù, vì tranh dành chút lợi lộc vật chất nào đó để tâm thù hằn, nên làm “ăng-ten” để trả thù hay kiếm chút quyền lợi cho bản thân. Ngoài ra, còn một số nữa, vì yếu đuối, tinh thần không vững, bị bọn cán bộ dụ dỗ, hứa hẹn cho về sớm, đã tin và chịu làm “ăng-ten” để kiếm điểm. Nói như thế không có nghĩa là những người được thả về sớm đều là “ăng-ten”. Thực tế đã chứng minh, những tên cán bộ trại, quyền hạn chả bao nhiêu. Ngày về của tù cải tạo không hề do chúng quyết định. Trái lại, nhiều anh em bị chúng phê là cải tạo kém, chây lười lao động có khi lại về sớm hơn một số “ăng-ten”!

Bọn “ăng-ten” thường hành động rất bí mật. Nhiều khi một chuyện bị lộ mà không biết ai báo cáo. Cuối cùng người này nghi người nọ. Nghi ngờ lẫn nhau, đưa tới tình trạng anh em đồng tù, người này e ngại người kia, không dám thân mật, tiếp xúc. Đó là một trong những thủ đoạn thâm độc của Việt Cộng, chia rẽ những anh em tù đồng chí hướng, dùng tù nhân trị tù nhân, luôn luôn tạo sự căng thẳng trong cảnh tù đày. So với Thực dân Pháp trước đây, Việt Cộng còn tàn ác dã man hơn nhiều. Chúng áp dụng thủ đoạn hèn hạ này, mua chuộc, hứa hẹn, chia để trị lên chính những người cùng chung huyết thống, chủng tộc, cùng một ngôn ngữ, cùng một dòng máu đỏ, cùng một màu da vàng.

Lúc còn ở Trại Ái Tử, nhiều vụ “ăng-ten” báo cáo đã khiến một số anh em điêu đứng.

Anh Trần Kiêm Quy ở khối tôi bị cán bộ trại kêu lên khủng bố tơi bời làm anh mất ngủ cả mấy tháng trời. Nguyên nhân chỉ vì 2 câu:

“Nhớ bác Hồ thèm ăn lương khô
Thương cha già ghẻ hờm thúi chân”.

Lúc đó trong khối tôi, không biết ai đã hát hai câu trên, nhưng “ăng-ten” đã báo cáo là anh. Sau đó, anh Phan Đạt, Đại úy thuộc Trung tâm Tuyển mộ Nhập ngũ lại bị gọi lên. Anh này nhận chính anh đã hát câu “Nhớ bác Hồ thèm ăn lương khô”. Anh Đạt trình bày, lúc ra thăm gặp gia đình dưới chỗ xây đập thủy lợi, anh nghe mấy đứa con hát như vậy nên anh bắt chước, thế thôi. Còn cái câu “Thương cha già ghẻ hờm thúi chân” anh ta không hề hát. Chỉ có thế mà anh Đạt bị tụi cán bộ la mắng đủ điều. Trong khoảng thời gian này, không khí trong khối tôi thật căng thẳng. Về sau, anh Phan Đạt có nói nhỏ với tôi, câu thứ hai là do anh Nguyễn Hữu Ái hát chứ không phải anh Quy. Không hiểu tại sao “ăng-ten” lại báo là anh Quy hát!

Một trường hợp khác xảy ra vào một buổi chiều. Sau khi tập họp trước sân để kiểm điểm công tác trong ngày, tên cán bộ quản giáo hỏi chúng tôi rằng, trong ngày hôm đó, có ai đã hát câu gì không. Đợi mãi chả thấy ai trả lời, anh Võ Trọng Hầu, trưởng khối đứng lên:

- Thưa cán bộ, hồi chiều, tôi và anh Pháp có hát bản “Tình đồng chí”.

Tên cán bộ quản giáo nói:

- Không, hát bài ấy thì nói làm gì!

Lại im lặng và cuối cùng, câu hỏi của tên cán bộ vẫn không có ai trả lời. Đến khi trời vừa tối, anh Nguyễn Hữu Ái, Đại úy, bị gọi lên làm việc. Anh vừa ra khỏi nhà, anh em trong khối bắt đầu bàn tán. Không biết anh đã hát cái gì khiến tên cán bộ quản giáo lại giận dữ đến như vậy. Vài ngày sau, qua rỉ tai nhau, anh em biết được anh Ái hát bài quốc ca Việt Cộng nhưng đổi lời, bị “ăng-ten” nghe được báo cáo. Cái câu thứ 3, thứ 4 gì đó anh sửa thành “Ngồi trong bếp kiến cắn sưng hòn dái”!

Nói chung, “ăng-ten” thường hoạt động khắp nơi, khối nào cũng có. Nhiều khi anh em biết rõ một kẻ nào đó làm “ăng-ten”, cố tìm bằng chứng để kết tội mà không ra, vì chúng báo cáo quá bí mật. Một vài anh rất gan dạ, khi biết đích xác kẻ làm “ăng-ten” họ chửi thẳng vào mặt, không sợ hãi. Dĩ nhiên sau đó anh này bị cán bộ kêu lên làm việc ngay.

Một lần, anh Trần Hữu Lực, Đại úy Trinh sát, khối trưởng chỉ định tôi đọc báo buổi chiều, sau giờ cơm tối, lúc tôi mới vào Khối 3 Trại Ái Tử. Đọc xong đoạn “có 142 nam nữ vừa tốt nghiệp kỹ sư”, tôi ngứa miệng:

- Kỹ sư đâu mà thi đậu dễ vậy!

Vậy mà đến tối, lúc tập họp kiểm điểm công tác lao động, tên cán bộ quản giáo đã cảnh cáo ngay:

- Có nhiều người trong khối ta đã khinh thường nền văn hóa của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Sự thật, so sánh nền văn hóa 2 miền, các anh sẽ thấy nền văn hóa “cách mạng” là ưu việt. Trong Nam, tôi thấy nhân dân còn mù chữ rất nhiều. Thi cử thì đút lót tiền bạc!

Nghe tên quản giáo nói, tôi chửi thầm trong bụng, không biết thằng chó đẻ “ăng-ten” nào mà báo cáo nhanh thế!

Khi tôi đọc báo xong, anh em tan hàng nghỉ, chỉ chừng 10 phút thì tên cán bộ quản giáo đã tới. Lúc đó trời chạng vạng tối. Có lẽ lợi dụng lúc tối trời này, tên “ăng-ten” đã lẻn gặp nó để báo cáo. Rút kinh nghiệm, từ đó về sau, tôi câm miệng như hến. Đã ít nói, tôi lại chủ trương ngâm miệng suốt đời, tưởng là được yên thân. Đâu ngờ, sự im lặng bất thường này lại càng là đối tượng để bọn “ăng-ten” nghi ngờ và theo dõi kỹ hơn. Có lần tôi gặp anh Nguyễn Hữu Hiên, cùng khối, bác sĩ phục vụ trong ngành Thiết Giáp trước đây, tôi báo cho anh ấy biết phải cẩn thận vì đám “ăng-ten” trong đội rất nhiều. Tôi nói với anh đừng lo, vì tôi đã chủ trương im lặng, giống như tư tưởng của một Thống chế người Pháp đã nói năm nào: “Se taire, c’est servir”, im lặng cũng là phụng sự. Kể từ đó, mấy năm liền, với người không thân, tôi không thèm nói năng gì cả. Mỗi lần đi củi về gặp tôi, bác sĩ Hiên hay mở miệng đùa:

- Ê, Se taire, c’est servir.

Thấy tôi ít nói quá, anh Trần Văn Đơn, Đại úy SĐ1KQ, nói nhỏ với tôi:

- Điền mên nói chuyện cà kê dê ngỗng cho vui. Ít nói tụi nó cũng nghi ngờ. Mình nhớ, thằng Dương Ngọc Sum nói với mình rằng, nó có đọc một quyển sách bàn về người ít nói. Theo cuốn sách đó, người ít nói là người thích ăn thịt và thường có âm mưu. Vậy Điền nên nói chuyện cho vui, chớ ít nói quá tụi cán bộ nghi ngờ Điền đang âm mưu việc gì thì khổ.

Tôi bảo anh:

- Thì hàng ngày tôi vẫn thường nói chuyện với anh, vẫn hát hò, vẫn văn nghệ văn gừng trong khối như anh thấy đấy. Còn nói bá láp bá xàm thì nói làm chi.

Có lẽ trời sinh, tính tôi ít nói. Đã thế do chủ trương không muốn nói nhiều để khỏi bị mấy thằng “ăng-ten” báo cáo, nhất là sống trong trại tù cải tạo, không khí lúc nào cũng căng thẳng. Mạng lưới “ăng-ten” nhan nhản khắp nơi. Mọi cử chỉ, lòi nói đều bị theo dõi. Điều này khiến mọi người có cảm tưởng bất cứ chỗ nào trong nhà cũng có máy chụp hình để sẵn. Sơ hở một chút là bị chụp ngay.

Sau khi vào Trại Bình Điền ở tỉnh Thừa Thiên, tôi thấy những vụ báo cáo còn ghê gớm hơn, sự khủng bố của bọn công an cũng dã man, tàn bạo hơn Trại Ái Tử nhiều. Thấy bọn “ăng-ten” phản bội lý tưởng, bán rẻ lương tâm, nối giáo cho giặc, tôi đâm ngao ngán cho tình người. Nhiều khi ngồi ăn cơm, trước mặt là một tên “ăng-ten”, bữa cơm chẳng còn cảm thấy ngon lành gì nữa, vì trong lòng bực bội. Sau đó, mỗi lần ăn cơm, tôi quyết định quay mặt vào tường ăn để tránh khỏi phải nhìn thấy những bộ mặt đáng phỉ nhổ.

Tôi ngồi như vậy đến 2 năm, dù có biên chế sang đội khác đi nữa. Có lần thấy tôi ngồi ăn quay mặt vào tường như vậy, anh Nguyễn Khoa Tín, Thiếu úy cảnh sát, ngồi bên tôi bảo:

- Quay mặt ra ăn cho vui. Không ai thèm ăn của bạn đâu mà sợ.

Thật ra phần ăn của người nào cũng chỉ sắn, rau và muối. Tại anh ta không biết chủ trương của tôi nên nói vậy. Tôi cũng chả cần nói chủ trương của mình cho ai biết. Se taire, c’est servir mà! Với chủ trương này, tôi cứ lủi thủi một mình, không giao tiếp, nói năng với ai, ngoại trừ những người bạn thân thiết. Cũng vì thấy tôi quá trầm lặng và cô độc, anh em cũng ít khi đùa giỡn với tôi. Anh Nguyễn Văn Toàn, Đại úy, sĩ quan Phòng 2, QĐII, hay gọi tôi là “người lữ hành cô độc”. Còn anh Hồ Xuân Anh, Đại úy, sĩ quan thuộc tiểu khu Quảng Trị, lại đặt cho tôi cái biệt danh “người Việt trầm lặng”. Thôi thì ai muốn gọi gì thì gọi, mình cứ sống theo chủ trương của mình. Thà làm một cái gì đó để chống lại bọn Việt Cộng trong tù rồi bị kết tội, còn hơn là ngồi đó “ba hoa chích chòe” để bị bọn “ăng-ten” báo cáo thì chẳng ích lợi gì.

Ngay những hành động của anh N.V.T ở Trại Cồn Tiên, của anh L.Đ.C ở Trại Bình Điền cũng không che dấu được sự dòm ngó của đám “ăng-ten”, cũng như bọn cán bộ trại. Hai anh đã đóng kịch xuất sắc. Tài diễn xuất của họ còn hơn cả kỳ nữ Kim Cương và tài tử Vân Hùng trong vở kịch “Lòng mẹ” trước đây, cũng không qua mặt được chúng. Chuyện này tôi chỉ nghe kể lại, vì lúc xảy ra, tôi không có ở Trại Cồn Tiên cũng như chưa đổi về Trại Bình Điền.

Không biết có phải vì tư tưởng “lớn” thường gặp nhau hay không mà hai anh lại cùng đóng một vai. Ở hai trại khác nhau, trước bức ảnh già Hồ, đặt trên bàn thờ trong hội trường, khói hương nghi ngút, các anh đã quỳ xuống trước bàn thờ “Bác”, khóc lóc thảm thiết, than vãn rằng, mấy chục năm đã lầm đường lạc lối, nay tỉnh ngộ quay về với “cách mạng” thì “Bác” đã vĩnh biệt cõi đời…!!! Cả hội trường đã tủm tỉm bụm miệng cười. Cái màn trình diễn này sau đó cũng bị lộ chân tướng. Chính vì vậy, đã có 2 câu thơ được truyền tụng tại Binh Điền như sau:

“Bình Điền có mấy chàng trai,
Văn Đô khát sữa, Đ. C khóc vờ”.

Trở lại chuyện “ăng-ten”. Bọn này hoạt động liên tục suốt ngày đêm, thật đắc lực và báo cáo rất chính xác. Chúng bung một mạng lưới dày đặc khắp trại như sương mù buổi sáng bao trùm mặt đất. Muốn nói chuyện với nhau, anh em thường phải liếc ngang liếc dọc, nhìn trước nhìn sau. Nhiều danh từ phải được ngụy trang để đánh lừa tụi “ăng-ten” và bọn cán bộ. Chẳng hạn Quốc Dân Đảng, gọi là “quần dài đen”, Đại Việt biến thành “đít vịt”, Xây Dựng Nông Thôn đổi ra “xì dầu nước tương”, Vượt Biển, Vượt Biên kêu “vọp bẻ”.

Ngoại trừ một số công khai làm “ăng-ten”, thường thì chúng hành động rất bí mật, nên khó có thể biết được ai là người đã báo cáo. Chỉ sau khi câu chuyện đổ bể ra, anh em mới hay và chỉ còn cách đoán mò xem ai là thủ phạm, nhưng cũng chỉ là bán tín bán nghi. Họa hoằn lắm mới có một hai tên “ăng-ten” bị lộ.

Điển hình như trường hợp anh N.V.K. Không biết có phải do bị bệnh thần kinh hay vì “sốc” chuyện gì, đang từ một người có tư tưởng chống Cộng mạnh mẽ, biến thành một tên “ăng-ten”. Anh này từng là bạn của anh Cát nên tôi cũng quen. Thình lình vào một buổi sáng, anh ta ngồi viết bản báo cáo công khai, giữa thanh thiên bạch nhật rồi mang lên nộp cho cán bộ.

Bản báo cáo ghi rõ mọi hành vi “phản động” của các anh em trong trại mà anh ta từng tiếp xúc. Sự báo cáo rất chính xác khiến cán bộ quản giáo tin anh ta hết mình. Thấy vậy, anh em dần dần né tránh. Có lỡ phải tiếp xúc, họ cũng chả dại để lộ điều gì. Các báo cáo của anh ta từ đó không còn giá trị. Nhiều khi anh ta phải bịa đặt, thêm thắt để chứng tỏ có làm việc. Cán bộ không còn tin dùng nữa. Chính tên cán bộ Huệ đã mở miệng nói với anh em:

- Để anh ta nghỉ ngơi đi. Chắc anh ta bị bệnh thần kinh rồi!

Ngay khi mới nghe tin anh N.V.K. làm “ăng-ten”, tôi đã giật mình. Trước đó mới vài ngày, tôi, anh Cát và K. đã cùng nhau bàn luận vụ viên đại sứ Đinh Bá Thi của ngụy quyền Hà Nội tại Liên Hiệp Quốc, nghi ngờ bị ám sát. Theo chúng tôi biết, Đinh Bá Thi bị chết vì tai nạn xe hơi đâu tại một tỉnh thuộc miền Trung Viêt Nam. Một số anh thì lại nói, vì tai nạn máy bay sau khi từ Mỹ về. Không biết trong bản báo cáo anh N.V.K có ghi lại việc chúng tôi bàn luận này hay không?

Về chuyện Đinh Bá Thi, chúng tôi lại nghe một số phạm nhân, nguyên là sĩ quan Công an thuộc ngụy quyền Hà Nội, bị kết tội tham nhũng, đưa vào nhốt tại Bình Điền, kể khác. Theo đó, Đinh Bá Thi, lúc làm đại sứ tại Liên Hiệp Quốc, đã ăn cắp tài liệu mật của Mỹ và sau đó bị phát giác. Để tẩu thoát, hắn nhanh chân lên xe phóng ra phi trường và leo lên máy bay Liên Sô. Qua nhiều phi trường, cuối cùng Thi về được Việt Nam. Để ém nhẹm, ngụy quyền Hà Nội đã dàn cảnh cho Đinh Bá Thi tử nạn. Thực ra, Đinh Bá Thi hiện còn sống, đã được đổi tên họ và vẫn nằm trong Bộ Chính Trị ở Hà Nội.

Một nhân vật “ăng-ten” khác, giáo sư Cao Học sử địa Đỗ Thanh Quang. Anh này rất nguy hiểm. Vì thuộc cùng đội Rau xanh nên chúng tôi luôn luôn phải đề phòng.

Anh Cổn, bạn thân của tôi luôn nhắc nhở phải cẩn thận vì tên Quang tính tình rất xảo quyệt. Mỗi lần làm việc chung, anh ta thường hay gạ chuyện để tôi nói. Tôi đâu có mắc bẫy nên miệng lúc nào cũng câm như hến. Một lần anh ta bảo tôi, sau này khi được thả về, anh ta sẽ viết một cuốn sách nói về cuộc sống trong tù. Bực trong bụng với ý nghĩ, hạng người như vầy mà cũng muốn viết sách nói về cuộc sống trong tù, tôi không kềm được “miệng hến”, hỏi xỏ, cố ý dồn anh ta vào thế bí:

- Vậy anh đứng trên quan điểm nào để viết cuốn sách đó? Mác-xít hay Duy tâm?

Thấy khó trả lời, anh ta im luôn. Anh Cổn, từng cho tôi biết, tay Quang này đã làm điêu đứng rất nhiều bạn bè khì còn ở ngoài đời. Ngay trong trại tù cải tạo, anh ta cũng không ngần ngại tố cáo cả một số cán bộ ở Ty Công an và mấy tên cán bộ trong trại nữa.

Cái tài của anh ta là bịa đặt những chuyện độc ác để hại người. Bịa đặt giỏi ít ai sánh kịp. Từng gán cho một người bạn đồng nghiệp lúc còn dạy học là C.I.A của Mỹ khiến anh này bị tống vào trại “cải tạo” mặc dù anh này chưa bao giờ biết C.I.A là gì! Không hiểu vì động cơ gì anh ta làm như vậy? Tư thù hay lợi lộc cá nhân? Báo cáo của anh ta đã làm hại cuộc đời một người đồng nghiệp vô tội! Bản thân anh Quang, sau này không hiểu vì tham vọng hay vì cái gì, tham gia vào một tổ chức không rõ mục đích hoạt động, cũng bị đưa vào trại “cải tạo”.

Lúc mới vào, gặp lại anh Cổn, anh ta còn lên mặt khuyên nhủ anh Cổn, là bạn bè, phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đừng bao giờ phản bội nhau. Chính anh ta đã giơ tay lên trời thề thốt. Nhưng cũng chính anh ta lại là người đầu tiên, phản bội lời thề, cam tâm tình nguyện làm “ăng-ten” cho Việt Cộng.

Một buổi sáng, anh Cổn kêu tôi lại nói nhỏ:

- Điền, thằng Quang vừa báo cáo lên cán bộ an ninh trại một bản báo cáo dài 8 trang, tố cáo tụi mình, tố cáo cả tên cán bộ Xá nữa.

Tôi hỏi anh:

- Nó báo cáo việc gì. Sao anh biết?

Anh Cổn đáp:

- Tên cán bộ Xá đưa bản báo cáo cho mình đọc.

Thì ra, qua bản báo cáo, Quang tố luôn tên cán bộ xá về vụ bán củi nên tên này tức giận mới cho anh em trong đội Rau xanh biết đầu đuôi. Tên cán bộ Xá có được bản báo cáo nhờ tên cán bộ Phu, phụ trách an ninh đưa cho xem, sau khi nhận từ tay Quang.

Nội dung bản bán cáo mà anh Cổn đọc được như sau:

1- Các anh Trương Thúc Cổn, Trần Văn Cát, Dương Viết Điền, Võ Trọng Hầu và Cao Hữu Hòa là những người tung tin phản động trong trại.

2- Anh Cao Hữu Hòa là C.I.A của Mỹ. Vì vậy không nên để cho anh Hòa làm công việc tự giác như hiện nay (lúc đó anh Hòa đặc trách về công tác vệ sinh ở nhà cầu, được phép ra vô trại tự do để lo nhiệm vụ. Sau này, mỗi lần gặp anh ở Sàigòn, tôi thường đùa với anh: Chào ông giám đốc sở vệ sinh Bình Điền. Anh cũng chào lại: Chào thằng chăn trâu).

3- Phải tập trung tất cả những sĩ quan “ngụy quân” lại một chỗ và không cho họ làm việc tự giác như hiện nay vì rất nguy hiểm (Bản báo cáo này viết năm 1983).

Sau khi anh Cổn tiết lộ tin này, anh em trong đội rỉ tai nhau nghe và chuyện này lan tràn cả trại. Tên quản giáo đội Rau xanh cũng tức giận vô cùng vì chính nó cũng bị tố. Vào một buổi chiều, trước khi về trại nghỉ, tên Xá tập trung anh em trong đội lại và nói:

- Các anh thấy không, ở tù với nhau mà còn đi báo cáo nhau như vậy. Nó còn dám báo cáo cả tôi nữa chứ! Báo cáo tầm bậy tầm bạ. Đời nào trại tin. Khi nào phủ cũng bênh phủ, huyện cũng bênh huyện chứ bộ. Tôi cho các anh được trùm mền tên Quang này lại mà nện cho nó một trận!

Trong hàng, chúng tôi chỉ biết im lặng. Nhìn quanh nhìn quất, không thấy bóng dáng tên Quang đâu cả. Có lẽ anh ta bận chuyện gì chưa tới tập họp kịp hay không chừng đã khai bệnh ở nhà rồi cũng nên. Vụ báo cáo này khiến tên “ăng-ten” bị lộ nên hắn bị mọi người cô lập. Không ai thèm nói chuyện với anh ta nữa.

Trong quân đội, chúng tôi thường thuộc câu “nhìn quân phục, biết tư cách”. Không hiểu tại sao, một người có trình độ cao học, từng là giáo sư Sử Địa, dạy bậc trung học, mà tư cách lại đốn mạt đến thế! Anh Hòa đã đặt nghi vấn về cái bằng cấp Cao học đó:

- Điền này, đỗ được văn bằng Cao học Sử Địa mà mình hỏi nó chữ “chính phủ lưu vong” tiếng Pháp là gì nó không biết! Tiếng Anh cũng mù tịt!

Phần tên Quang, sau khi bị lộ vì hành động báo cáo, anh ta cảm thấy nhục nhã vì bị mọi người khinh bỉ, né tránh. Anh ta cứ lầm lầm, lì lì đi ra đi vô chẳng nói một lời. Mấy tháng sau, đội Rau xanh được di chuyển ra ở khu nhà ngói. Nơi đây đúng là nhà tù, giống như ở lao Thừa Phủ tại Huế. Cửa ngõ luôn luôn được khóa kín, ra vào có giờ giấc mặc dù chung quanh 3 dãy lầu lợp ngói này đã có mấy lớp hàng rào kẽm gai bao bọc. Tại đây, tên Quang càng bị anh em tẩy chay. Ngay cả mấy tên “quái” ở chung cũng ghét cay ghét đắng anh ta.

Vào một buổi sáng khi tiếng kẻng báo thức vang lên để anh em chuẩn bị tập thể dục, Quang thức dậy, phát hiện trên nóc mùng một bãi cứt người. Anh la toáng lên và chạy đi báo cáo với anh đội trưởng. Cũng chỉ có thế, vì đội trưởng hay kể cả cán bộ cũng không thể điều tra được bãi cứt đó là của ai! Anh ta chỉ còn nước cuốn mùng đi giặt mà thôi! Nghe đâu, trước khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản, lợi dụng mình trùng họ với một vị tướng, anh ta đã khoe là có bà con xa gần, để hù dọa, tác yêu tác quái, khiến một số người phải khiếp sợ.

Anh Cổn còn nói với tôi rằng, sau năm 1975, Quang đã bị bắt vào trại cải tạo. Nhờ bên vợ quen biết với Lê Duẩn, cựu Tổng Bí Thư đảng Cộng sản Việt Nam, nên được trả tự do rất sớm. Trở về, anh ta lại tham gia vào một nhóm “phản động”, nên lại bị bắt nhốt trở lại. Ỷ vào sự quen biết bên gia đình vợ, tên Quang lại một lần nữa, viết thư gửi tới Lê Duẩn cầu cứu, xin can thiệp cho ra khỏi trại “cải tạo”. Chính Quang mở miệng khoe với một anh bạn tôi quen về nội dung lá thư. Đại khái có đoạn: “Đám mây mù đang phủ mờ công lý. Một lần nữa, xin thầy hãy cứu con”.

Nghe đâu, Ty Công an tỉnh Bình-Trị-Thiên lúc đó đánh điện ra cho Lê Duẩn nói sẽ không chịu trách nhiệm về những hậu quả sau này nếu tên Quang được thả ra khỏi trại. Có thể vì không muốn rắc rối nên Lê Duẩn lờ luôn và kết quả là anh ta vẫn tiếp tục chịu “cải tạo”.

Quá căm ghét Quang, một lần anh Trần Biên gặp anh ta bèn chận lại hỏi:

- Nghe anh báo cáo ghê lắm phải không? Lắng tai nghe này: Đ.M. Cộng sản. Đi báo cáo đi!

Nghe thế, Quang xuống nước:

- Thôi mà, tôi có gì đâu mà anh em nói vậy.

Không biết sau đó anh ta được trả tự do lúc nào, nhưng khi tôi trở về đoàn tụ với gia đình năm 1985, Quang vẫn còn ở tại trại.

Một vụ nữa, liên quan đến anh Nguyễn Châu, giáo sư Cao học Triết. Anh chỉ lỡ lời nói một câu đụng đến “tay tổ” của Cộng sản nên “ăng-ten” chụp ngay. Một bữa, không biết hứng chí sao đó, anh Châu hỏi anh Tăng:

- Tăng, mi có biết thằng Lênin không?

Chỉ có vậy mà anh Châu phải vào nhà kỷ luật “luyện yoga” mấy tháng trời.

Chính vì bọn “ăng-ten” tác yêu tác quái, hoành hành khắp trong trại, nên khi có tin đồn tất cả những người bị cải tạo sẽ được sang Mỹ, anh Trần Văn Cát và tôi đã gặp nhau đề cập cách đối phó với mấy tên này.

Anh Cát nói, nếu việc ra đi có thật thì lúc xuống tàu ra biển cả, phải tìm cách nào để bồng mấy thằng “ăng-ten” vất xuống biển. Chúng tôi còn đem vấn đề này bàn thảo với một số anh em thân thiết nữa. Vào một buổi tối khi cơm nước vừa xong, anh B. gọi tôi lại và bảo:

- Thằng V. có ý định báo cáo Điền đó.

Tôi hỏi anh:

- Báo cáo vụ gì?

Anh trả lời:

- Nó bảo anh Cát và Điền sẽ bồng nó vất xuống biển khi xuống tàu qua Mỹ.

Nghe anh nói vậy, tôi chỉ mỉm cười. Tôi biết chắc anh ta sẽ không báo cáo. Có lẽ vì sợ nên anh ta bắn tiếng dọa chơi mà thôi. Vả lại, anh ta biết chắc một điều, nếu anh ta báo cáo thật, cái hậu quả anh ta gánh chịu sẽ thảm khốc thần sầu, khi đặt chân xuống tàu đi Mỹ. Bởi vì, anh ta còn thèm được qua Mỹ hơn ai hết.

Nói tóm lại, mạng lưới “ăng-ten” đã làm điêu đứng không biết bao anh em tù trong các trại. Nhiều người quá uất ức vì bọn chúng làm họ khổ sở, mất ăn, mất ngủ hàng tháng, hàng năm.

Đã từng cùng chung một chiến tuyến, cùng chịu đựng gian khổ, từng gắn bó bên nhau, giờ đây chỉ vì một phút yếu lòng, một chút lợi lộc bé nhỏ mà quay lưng lại, phản bội lý tưởng, phản bội bạn bè, cam tâm làm tay sai, nối giáo cho giặc Cộng, bọn “ăng-ten” thật đáng ghê tởm! Đúng như một nhà chiến lược Đức Quốc Xã, ông Josef Donald, đã từng nói: “Cái mà người ta sợ nhất ngày hôm nay là đồng loại con người, chính là con người”.



Một cảnh trong trại tù cải tạo






CHƯƠNG 5

Tin đồn



Phải nói rằng, nếu có trí nhớ bền vững, giờ đây người ta có thể viết lại được khoảng 1.001 tin đồn ở trong trại tù cải tạo. Tựu trung, tin đồn bay vào trại “cải tạo” do nhiều đường dây: do thân nhân lên thăm nuôi, do anh em đi công tác ngoài trại thu lượm được, do chính mấy tên cán bộ tung ra để gây hỏa mù, do tù nhân trong trại tạo nên để kiên định lập trường, giữ vững niềm tin đồng thời chống trả lại những nguồn tin của bọn cán bộ… Với mớ tin đồn hỗn lộn đó, nhiều tin khiến anh em phấn khởi, nhưng cũng có những tin tức làm anh em chán nản tuyệt vọng.

Từ 1975, lúc vừa đặt chân tới Trại Ái Tử, đến khi được trả tự do, chúng tôi đã nghe vô số tin đồn. Nào là Trung tá Hoàng Mão đang lập chiến khu ở Ba Lòng để chuẩn bị đánh lại Việt Cộng. Nào là Tướng Ngô Quang Trưởng, trong chiến khu thuộc tỉnh Bến Tre, bắt đầu liên lạc với những cánh quân của QL/VNCH không chịu buông súng đầu hàng, đang rải rác tận rừng sâu.

Anh em trong trại nửa tin nửa ngờ. Nằm trong lớp hàng rào kẽm gai, anh em tù không có cách gì kiểm chứng thực hư, 13 năm sau nghe tin Trung tá Hoàng Mão mới đi “cải tạo” về!

Lúc vào Sàigòn để được phỏng vấn theo diện H.O., tôi có ghé chỗ anh Nguyễn Tri Tấn làm việc. Tại đây, tôi tình cờ gặp các anh Phạm Cang và Hoàng Mão. Tôi buột miệng:

- Ôi chao! Tụi nó đồn anh lập chiến khu ở Ba Lòng để chống Việt Cộng!

Nghe tôi nói, anh Mão chỉ mỉm miệng cười.

Đầu năm 1976, có tin đồn Mao Trạch Đông đã chết. Đúng lúc đó, chúng tôi lại thấy bọn cán bộ trại cho treo cờ rủ. Đến khi vào Bình Điền, tin đồn lại ngày càng nhiều hơn. Năm 1978, có tin nói, tướng Việt Cộng Chu Văn Tấn, gốc người Mường, bị Lê Duẩn nhốt vào hầm đá. Còn Võ Nguyên Giáp cùng một số thuộc cấp, vượt biên giới Việt-Hoa, trốn sang Trung Cộng, nhưng bị toán cận vệ của phe Lê Duẩn chĩa súng vào người bắt giải về lại.

Từ năm 1979 đến 1985, tin đồn bay vào trại dồn dập. Nào là chính phủ lưu vong của VNCH đã được quốc tế công nhận và ra mắt tại Thái Lan. Sau đó, một nguồn tin khác, chính phủ VNCH mới, đã được thành lập tại Paris mà chủ tịch là ông Nguyễn Xuân Vinh, cựu Đại tá Không Quân thuộc QL/VNCH trước kia.

Rồi lại có tin, đồng bào đi xe đò qua các tỉnh vùng Cao nguyên Trung phần, đã gặp nhiều người mặc áo quần lính Thủy Quân Lục Chiến, mang súng AR.15…

Nhũng tin đồn tới tấp kiểu này chỉ làm anh em bán tín bán nghi vì không rõ hư thực. Dầu vậy, khi nghe có một số đơn vị của QL/VNCH đã từ Thái Lan trở về, xâm nhập vào Việt Nam để đánh phá một số nơi, anh em không khỏi nức lòng.

Rồi còn một tin đồn nữa về cựu Trung tá Phạm Văn Đính, người đã kéo cờ trắng đầu hàng Việt Cộng trong trận Quảng Trị. Ai cũng ngạc nhiên khi nghe ông này bị bắt trói và nhốt lại vì là C.I.A của Mỹ. Một số anh suy diễn, té ra ông ta trá hàng theo lệnh C.I.A và như vậy, trong danh sách của Mỹ gửi cho Hà Nội, tên của Trung tá Đính nằm trên cùng và sẽ được Mỹ ưu tiên bốc đi trước. Sự thực, cuối cùng, không hề có chuyện này. Ông Đính hiện giữ một chức vụ gì đó trong ngành thể dục thể thao của Việt Cộng, không đi đâu cả, bây giờ có lẽ cũng đã về hưu.

Từ năm 1980 đến 1985, những tin tức sốt dẻo nhất là tin tức liên quan đến vấn đề đi Mỹ. Những tin này được phát đi từ các đài BBC, VOA, nên thân nhân lên thăm nuôi đều nói giống nhau. Từ đó, nó được phóng đại, thổi phồng. Một thành mười, mười thành trăm. Nào là tất cả các nhân viên trong chính phủ VNCH, quân, cán, chính, cảnh sát… đều được truy lãnh tiền lương! Ai từng bị cải tạo đều được đi Mỹ hết. Những người đang còn ở tại trại, trực thăng sẽ đáp xuống bốc đi luôn. Thời gian này, anh em trong trại rất hồi hộp, háo hức, bàn tán suốt ngày đêm.

Sự việc làm sao thoát khỏi tai mắt bọn cán bộ. Ban giám thị trại bèn tập họp anh em lại để “giáo dục”. Tên Trung tá trại trưởng Trần Văn Truyền, trên hội trường, trước mặt mọi người, huyênh hoang:

- Các anh nên học tập cải tạo tốt để chờ ngày về. Đó là con đường duy nhất của các anh! Các anh đừng nằm mơ! Không bao giờ có chuyện truy lãnh lương hay qua Mỹ đâu! Còn nếu sau này, được thả về mà các anh còn ôm chân Đế quốc, vượt biên qua Mỹ, các anh cũng chết thôi! Rồi đây, chúng tôi sẽ sang giải phóng nước Mỹ và bắt các anh về lại…

Cái tin đồn này ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt của anh em trong trại, nên ban giám thị cứ vài ba tuần lại tập họp đám tù một lần để “trấn an” và “giáo dục”. Có lần tên Trần Hữu Ái, Đại úy giám thị phó trại phải bực bội phủ đầu chúng tôi:

- Không hiểu tin tức tầm bậy tầm bạ như vậy mà các anh cứ bàn tán hoài. Không lẽ thằng Mỹ đi mua các anh? Các anh chẳng đáng giá bằng cái chủi đót hay cái bình thủy đựng nước sôi đâu! Ai mà mua!

Nó vừa nói xong, có một vài anh em mở miệng:

- Nhưng ai bán và ai mua?

Ít lâu sau, lúc tên Phố vừa về thay chức giám thị phó cho tên Ái, cũng tập họp chúng lại và nói:

- Chúng tôi đã nói là không có chuyện đi Mỹ. Chỉ có một con đường là các anh phải lo “học tập” tốt để còn được cách mạng cứu xét, khoan hồng, cho về đoàn tụ với gia đình. Chứ Mỹ mua các anh để làm gì? Mua các anh để làm cao sao?

Ý nó muốn mỉa mai, Mỹ mua anh em chúng tôi đem sang Mỹ để chế biến, nấu thành cao giống như người ta nấu xương cọp thành cao hổ cốt vậy!

Như tôi đã trình bày ở trên, trong số những tin đồn lọt vào trại, tin anh em sẽ được đi Mỹ là tin phấn khởi nhất. Đang sống trong cảnh địa ngục trần gian, trăm cay ngàn đắng, bỗng đâu lại có tin sắp được lên thiên đường, thử hỏi làm sao anh em tù không nức lòng cho nổi!

Ngoài cái tin quan trọng này, chúng tôi còn nghe nhiều tin tức khác cũng không kém phần giật gân và hấp dẫn. Nào là Tướng Lê Tự Đồng suýt bị giết chết ở Huế vì bị bom gài trong lúc đang thuyết trình trên bục gỗ. Nào là Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã đến viếng thăm Trung Cộng và đã được bắn 24 phát đại bác dàn chào, theo nghi thức dành cho các vị nguyên thủ quốc gia đang tại chức. Nào là Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch bị phát hiện đã từng buôn lậu trong những chuyến công du ở nước ngoài. Nào là Đại sứ Đinh Bá Thi đã bị tử nạn xe hơi. Nào là Tướng Nguyễn Khoa Nam, cựu Tư lệnh Vùng 4 Chiến thuật vẫn còn sống và người chết mang 2 sao trên cổ áo chỉ là xác tên cận vệ đã liều mình cứu chúa v.v…

Có một lần đi bổi về làm phân xanh cho trại, không biết nghe tin từ đâu, anh Võ Đại Lô, chung khối với tôi, cho biết, có một chính phủ lưu vong đang được thành lập mà Tổng thống là ông Hà Thúc Ký và Phó tổng thống là ông Nguyễn Cao Kỳ!

Tiếp theo đó, có một tin sốt dẻo xảy ra ngay tại Ty Công an thuộc tỉnh Bình-Trị-Thiên. Một viên Trung tá Công an Việt Cộng thuộc Ty Công an này đã cùng một số thuộc cấp, ôm tất cả hồ sơ của anh em cải tạo, xuống tàu vượt biên qua Mỹ! Sau khi phát giác, Ty Công an Bình-Trị-Thiên đã đánh điện tín cho tàu Nga Sô ngoài hải phận quốc tế chận lại và bắt được trọn ổ.

Trong thời gian Lê Duẩn còn làm mưa làm gió tại Hà Nội, nhiều tin đồn, dân chúng đang chán ghét ông ta vì chuyện lập bè lập đảng, nhằm thanh toán hết những đối thủ của mình. Do đó mới có tin đồn, khi Tướng Võ Nguyên Giáp đi họp ở Nga Sô về, bị tay chân của Duẩn gài bom định sát hại. May nhờ điệp viên Nga phát giác kịp thời nên Giáp thoát nạn. Nhiều người trước đây, phục vụ rất đắc lực cho đảng Cộng sản, chứng kiến cảnh lập bè đảng này của Duẩn nhằm củng cố địa vị, đã chán nản và không còn muốn phục vụ nữa.

Vào một buổi chiều, khi ăn cơm tối xong, anh Trần Viết Hòa gọi tôi lại, chỉ cho xem một bài thơ, đăng trên một tạp chí của Cộng sản. Tác giả bài thơ là Xuân Thủy. Tôi còn nhớ nó như sau:

Em ơi hen xuyễn biết làm sao?
Thở chẳng ra cho, hít chẳng vào
Như có khối tình trong ngực nặng
Buồn buồn, bực bực lại nao nao
Bệnh anh nay đã chuyển qua tim
Chẳng có thuốc nào chữa trị tim
Thầy thuốc nghe qua ắt cũng thấy
Tim anh rung động chỉ vì em

Qua bài thơ này, người ta thấy Xuân Thủy đang buồn bực cho chế độ Hà Nội lúc bấy giờ. Như vậy, tin đồn trên chắc cũng có phần chính xác.

Rồi chúng tôi lại nghe một tin đồn về xác ướp của Mao Trạch Đông. Theo tin này, xác họ Mao được ướp đã lâu, nay biến thành màu đen và bị rạn nứt, phải nhờ chuyên viên Việt Nam “xem lại”!

Chắc Trung Cộng muốn nhờ Việt Nam móc nối với các chuyên viên Nga Sô qua “chăm sóc” cái xác của Mao đang có hiện tượng bị phân hủy. Thật ra với chuyện ướp xác, việc chích Formal Dehyde và Lanoline chỉ giúp cho xác chết chậm phân hủy, chứ lâu ngày rồi, cái xác cũng phải vữa ra thôi. Các xác ướp của Mao, Hồ và cả Lênin nữa cũng giống nhau. Chính bác sĩ Latsts cũng từng làm như thế với xác Lênin. Kết cục là xác Lênin bị hư nên Staline đã ra lệnh thủ tiêu ông ta và cho bác sĩ Zbarsky thay thế. Ông này cũng bó tay và chỉ đắp sáp vào xác Lênin mà thôi.

Trong thời gian Trung Cộng xua quân đánh 6 tỉnh miền Bắc nước ta, Đặng Tiểu Bình đã từng tuyên bố dạy cho Cộng sản Việt Nam một bài học và khẳng định rằng, cuộc tấn công sẽ chớp nhoáng, bằng vào câu nói: “Buổi sáng ăn điểm tâm ở Hà Nội, dùng cơm trưa tại Huế và ăn tối tại Sàigòn”. Chính trong thời điểm này, có một nguồn tin cho biết, xác Hồ Chí Minh đã được di chuyển từ quảng trường Ba Đình ở Hà Nội vào Dòng Thiên An thuộc tỉnh Thừa Thiên, Huế.

Rồi lại có tin đồn nhạc sĩ Phạm Duy, đang hát bài “Mất quê hương” thì bị xúc động quá và chết ngay trên sân khấu, tại thủ đô Paris của nước Pháp.

Hết tin Phạm Duy đến tin Liên Thành, cựu Trưởng ty Cảnh sát Thừa Thiên. Nghe đâu ông này đã được lên cấp bậc Đại tá và đang đặc trách vấn đề tiếp nhận những người vượt biển tìm tự do tại các trại tỵ nạn ở Hồng-Kông.

Có lần tôi đang giữ trâu ở ngoài đồng thì gặp môt người đang cho bầy bò ăn cỏ gần đó. Hỏi ra mới biết đó là anh Liên Á, anh em thúc bá với Liên Thành. Anh Liên Á bị đưa lên Trại 2 thuộc trung tâm cải tạo Bình Điền vì tội tham gia vào nhóm “phản động” mới. Chính Liên Á cho tôi biết Liên Thành đã được thăng cấp Đại tá.
Như đã đề cập ở chương 1, lúc chúng tôi vào Trại 1 ở Bình Điền, tất cả anh em thuộc trung tâm cải tạo Ái Tử, tỉnh Quảng Trị, đều bị đưa ra sông Mực ở Thanh Hóa để lao động. Sau một năm, tất cả đều được đưa về lại trại Ái Tử, một thời gian ngắn, rồi mới chuyển đến Bình Điền. Trong thời gian này, một số anh em ở vài trại, được điều động đi xây dựng hệ thống dẫn thủy nhập điền ở Quảng Trị, mang tên là đập Trấm. Lúc này, một tin đồn từ ngoài đập Trấm bay vào Trại Bình Điền làm anh em phấn khởi, nức lòng. Nhưng rồi anh em lại đau buồn khi 2 tù nhân, cùng mang cấp bậc Trung úy, bị bọn cán bộ thủ tiêu.

Theo tin đồn này, trong lúc anh em đang lao động tại đập Trấm, một phái đoàn của Liên Hiệp Quốc đã ghé qua để quan sát hệ thống dẫn thủy nhập điền. Đang hì hục lao động dưới anh nắng gay gắt như thiêu như đốt, một tù nhân, Trung úy TQLC, chợt thấy có một số người ngoại quốc tiến lại gần, trong đó có vài người Mỹ. Anh ta liền vất cuốc và chạy nhanh về phía họ, mở miệng nói vài câu gì đó. Mới được vài tiếng thì một người Việt Nam đi bên cạnh, chận anh Trung úy TQLC lại và bảo:

- Tôi là thông dịch viên. Muốn gì, anh cứ nói với tôi, tôi sẽ dịch lại chứ anh không được phép trực tiếp nói với họ.

Viên Trung úy trả lời:

- Khỏi cần anh thông dịch. Tôi cũng biết tiếng Anh. Hãy để cho tôi nói thẳng với họ.

Thế rồi, bất chấp sự ngăn cản của gã thông dịch viên, anh Trung úy TQLC nói liền một hơi với người Mỹ trước mặt. Ông người Mỹ cũng trả lời lại. Hai người đối đáp với nhau chưa được ít phút thì gã thông dịch viên đã kéo đến một tên cán bộ, ra lệnh cho anh Trung úy phải ngưng ngay và trở về chỗ để lao động tiếp. Không thể làm gì hơn, anh Trung úy đành phải quay về vị trí lao động của mình. Anh thừa biết việc mình vừa làm là quá mạo hiểm sẽ đưa đến hậu quả tai hại khó lường vì đã vi phạm nội quy của trại tù cải tạo.

Về chỗ, anh Trung úy cho các anh bên cạnh biết, anh vừa tố cáo với người Mỹ về những đối xử tồi tệ của Việt Cộng đối với anh em trong trại tù cải tạo. Người Mỹ này an ủi và khuyên anh, cố gắng nhẫn nhục chịu đựng một thời gian nữa. Rồi đây, phía người Mỹ sẽ bồi thường xứng đáng cho tất cả anh em. Một anh bạn thân của anh Trung úy này, cũng cấp bậc Trung úy, khi về trại liền tung cái tin này ra cho tất cả mọi người đều biết.

Ngay tức khắc, bọn “ăng-ten” báo lên ban giám thị trại. sáng hôm sau, trong lúc anh em đang tập họp chờ phân phối công tác lao động, hai anh Trung úy được lệnh lên trại nhận công tác đặc biệt. Một tên vệ binh được điều xuống để dẫn hai anh đi. Khoảng vài phút sau, anh em nghe một loạt súng nổ, hướng tên vệ binh vừa dẫn hai anh này đi.

Đó là loạt súng của tên vệ binh đã được lệnh thủ tiêu hai anh Trung úy. Nghe đâu sau đó, có mấy người dân đi ngang, thấy hai xác người nằm chết kề bên ven suối, họ động lòng nên đã đào hai cái hố và chôn cất hai cái tử thi vô thừa nhận.

Song song với tin đồn này, một tin khác xuất phát từ các trại cải tạo ở Ái Tử. Từ khi đi lao động ở sông Mực, Thanh Hóa về lại Ái Tử, anh em thường nghe thấy giọng hát của một cô gái giữa đêm khuya thanh vắng. Giọng hát thật hay và lạ một điều, cô gái này chỉ hát nhạc “vàng” (nhạc mà bọn Việt Cộng cho là loại nhạc tình cảm ủy mỵ, đồi trụy). Một vài anh, tò mò, lẻn ra khỏi hàng rào trại, hy vọng có thể gặp được cô kỳ lạ này. Giai đoạn này, hàng rào trại rất sơ sài nên việc ra khỏi trại, nhất là ban đêm, không có gì khó khăn cả. Vài anh đã may mắn gặp được cô gái. Tiếp xúc vài lần, các anh đó hiểu được, cô gái đang tìm cách móc nối với các anh em trong trại tù trốn trại và sẵn sàng giúp đỡ để vượt biên sau đó.

Qua nhiều lần gặp gỡ và bàn thảo kế hoạch, vào một đêm đã ấn định trước, cô gái hát một bài nhạc vàng với cái tựa đề như đã thông báo, dấu hiệu lên đường, một số anh em lẳng lặng trốn khỏi trại đến điểm hẹn và được cô gái dẫn đi.

Sáng hôm sau khi thức dậy, trại vắng bóng rất nhiều người. Trước hiện tượng “mất tích” đột ngột của một số tù nhân, ban giám thị trại bắt đầu ra lệnh canh gác nghiêm ngặt cũng như huy động đám “ăng-ten” theo dõi riết ráo từng hành động của anh em tù. Nhưng sau cái đêm hôm đó, chẳng ai còn nghe thấy tiếng hát nhạc vàng của cô gái vang lên nữa. Nhiều người nói đó là một cô gái điên (?), có nếp sống phiêu bạt giang hồ, lang thang từ Hà Nội vào Sàigòn, có những ngôn ngữ và cử chỉ như những người tâm trí không được bình thường, nhất là khi di chuyển trên những chuyến xe lửa. Một lần cô ta vào trong một hốc đá trên vùng núi thuộc tỉnh Thừa Thiên, thấy cô ta lạ mặt và có những cử chỉ khác thường, một anh chăn bò và một tên du kích liền đi theo canh chừng. Đến gần, chúng thấy cô gái đang xử dụng một cái máy giống như loại máy vô tuyến để liên lạc với ai đó. Tên du kích xông tới bắt tại trận và giải giao về Ty Công an. Lúc khai thác, công an nhận ra chính là cô gái điên, thường có mặt trên các chuyến xe lửa tốc hành Nam-Bắc. Cuộc khai thác chưa đi đến đâu, cô gái bỗng dưng lăn đùng té chết. Đem thi thể vào nhà xác khám nghiệm, bọn công an phát hiện cô gái đã khéo léo mang một cái mặt nạ da để ngụy trang bộ mặt thật của mình. Chiếc mặt nạ, sau đó bị lột xuống và người ta thấy một khuôn mặt xinh đẹp tuyệt vời của cô gái đang tròn độ thanh xuân. Bọn công an nghi ngờ cô ta đã cắn vỡ viên thuốc độc dấu kỹ trong hàm răng để tự sát…

Tóm lại, tin đồn với tù cải tạo là nguồn an ủi, sự hy vọng để có thể chịu đựng, vượt qua những gian khổ kéo dài từ năm này sang năm khác. Vì vậy, nhiều tin rất đáng ngờ, không cách gì kiểm chứng, anh em tù cải tạo vẫn bám víu, vẫn thì thầm trao đổi, bàn tán, mong đó là sự thật. Từ lúc vào trại tù cải tạo đến khi được trả tự do, tôi đã nghe khoảng chừng 1.001 tin đồn. Nhiều đến nỗi không cách gì nhớ hết nổi. Những tin đồn tôi nói ở trên chỉ là một số điển hình.

(Còn tiếp)



       



Xoá hình nền                                                       Tăng độ chữ

Đăng Bài Mới    Góp Ý Kiến   
phpBB - Creating Communities
Vista theme by HelterSkelter © 2007 ForumImages
Vista images © 2007 Microsoft