Hồi Ký Trại Ái Tử Và Bình Điền

Traị Ái Tử Và Bình Điền

Dương viết Điền


Lời tác giả

Tôi không có tham vọng như Văn Vương bị giam cầm viết Chu Dịch, Khuất Nguyên bị đầy ải viết Ly Tao, Khổng Tử thời tao loạn viết Xuân Thu, Tư Mã Thiên giả ngu, câm, điếc để hoàn thành bộ Sử Ký. Tôi chỉ muốn ghi lại những kỷ niệm máu và nước mắt trong tù mà thôi.

Nói đến những kỷ niệm máu và nước mắt trong tù là nói đến những kỷ niệm thiêng liêng của đời người.Vì tính chất thiêng liêng đó, nên những sự kiện được viết ra, phải phản ảnh trung thực và chính xác. Quan niệm như vậy nên tôi đã viết đúng sự thật tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, trong cuộc đời tù tội. Có thể vì quá lâu ngày nên nhiều vấn đề tôi không nhớ hết và cũng vì một số bạn bè ở quá xa, chưa thể gặp lại được, nên có nhiều điều tôi muốn viết thêm nhưng sợ không chính xác nên tôi không viết.

Lúc còn ở trong trại tù cải tạo, tôi đã nghĩ rằng, sau khi được trả tự do, tôi sẽ viết một cuốn hồi ký để kỷ niệm. Vì vậy tất cả những sự kiện xảy ra trong tù, tôi đã cố gắng ghi nhớ và học thuộc lòng, nhất là những lá thư bằng tiếng Việt hay tiếng Ngoại quốc do thân nhân từ ngoài trại gửi vào, cũng như những lời tâm huyết mà anh em chúng tôi trao đổi với nhau qua những ngày tháng tù tội. Đã thế lại có tin đồn rằng, anh em tù nhân sẽ được “bốc” ngay tại trại để chở đi Mỹ luôn, nên tôi đã quyết chí phải học thuộc tất cả, kể cả tập thơ và tập nhạc do tôi sáng tác trong tù.

Khi được trả tự do, mặc dù đã học thuộc lòng, nhưng sợ tháng năm trôi qua sẽ quên mất, nên tôi đã cố gắng ghi lại tất cả những lá thư, tập thơ, tập nhạc. Thế rồi tôi làm một hòn non bộ và đặt tất cả những thứ đó dưới đáy. Sau đó, tôi phủ một lớp xi-măng cứng như đá lên trên. Nhìn vào, đó là một hòn non bộ có núi non, cây cỏ mọc chung quanh với những đường di chuyển quanh co…

Sở dĩ tôi làm như vậy để ngụy trang, đề phòng bọn Công an địa phương có thể vào khám xét nhà bất cứ lúc nào.

Từ 1985-1990, trong vòng 6 năm, năm nào tôi cũng phải ôn đi ôn lại những thứ đã ghi chép đó đến nhức cả đầu, trong lúc chờ đợi ra đi theo chương trình HO. Mãi đến năm 1990, chương trình này mới thật sự bắt đầu. Lúc chuẩn bị vào Sàigòn để được phỏng vấn, tôi mới đập bể hòn non bộ, lấy những thứ đó ra, ôn lại lần cuối cùng. Sau khi chắc chắn đã thuộc lòng như cháo, tôi lên đường vào Sàigòn, cho tới lúc được nhận đi Mỹ. Khi đặt chân tới đất nước Hoa Kỳ, tôi đã ngồi lì trong phòng suốt mấy ngày đêm, động não ghi lại tất cả những gì đã học thuộc lòng, chờ khi rảnh rỗi sẽ viết hồi ký. Ý nguyện của tôi sắp đạt được. Chí đã quyết, ước mộng sẽ thành. Vấn đề bây giờ chỉ còn là thời gian mà thôi.

Trong tù, tôi chủ trương im lặng suốt 10 năm trời. Chính vì vậy, ít khi tôi mở miệng. Có lẽ thời gian “tịnh khẩu” quá lâu ngày khiến nhiều khi muốn nói điều gì, những lời văn hoa chữ tốt hình như đã biến đi đâu mất, cố moi trong đầu óc mà mãi vẫn không ra! Thêm vào đó, không phải là văn sĩ chuyên nghiệp, viết cuốn hồi ký này tôi chỉ mong ghi lại những sự thật đã trải qua trong một giai đoạn cuộc đời mình. Cách hành văn, chắc sẽ nhiều luộm luộm, thiếu mạch lạc, bố cục không thể hoàn chỉnh… Dám mong quý độc giả thông cảm và lượng thứ cho những thiếu sót đó.

Hy vọng, nếu tái bản, tập hồi ký này sẽ được hoàn chỉnh và đầy đủ hơn.


California, ngày 31 tháng 12 năm 1991.
DƯƠNG VIẾT ĐIỀN.









CHƯƠNG 1

Trại tù cải tạo


Sau khi làm xong một vài thủ tục trình diện cần thiết tại trường Phan Sào Nam ở phường Tây Lộc thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên, tôi chuẩn bị ra về thì nghe tiếng quát thật to vọng ra từ một phòng học gần chỗ tôi đang đứng:

- Anh có biết, anh là một tên Quận trưởng ác ôn, chuyên môn bóc lột xương máu đồng bào không? Trong thời gian làm Quận trưởng, anh ăn hút của nhân dân bao nhiêu hả? Anh tham ô như thế nào, hả?

Có tiếng trả lời lớn như cãi tay đôi:

- Tôi không tham ô, tham nhũng gì cả. Tôi làm Quận trưởng nhưng không bao giờ bóc lột của dân chúng!

- Anh mà không bóc lột há? Anh lấy của nhân dân biết bao mà kể. Anh không chịu nhận tội mà còn cãi bướng hả?

Vẫn tiếng trả lời hồi nãy nhưng to hơn và có vẻ không chịu thua:

- Tôi không bao giờ tham nhũng, bóc lột của dân. Không tin anh cứ hỏi dân chúng trong quận tôi anh sẽ rõ.

Nghe những câu trả lời bốp chát và gan dạ, tôi giả đò đi nhanh ngang qua cửa sổ của phòng học, nơi có cuộc đối thoại gần như cãi vã rồi liếc vội vào trong xem thử cuộc đối thoại gồm những nhân vật nào. Thì ra đó là tên bộ đội Việt Cộng vừa chất vấn tôi hồi nãy và anh Võ Trọng Hầu, cựu Quận trưởng quận 1 ở Thành nội, Huế.

Bước xuống tầng cấp của trường Phan Sào Nam để ra về lòng tôi bỗng nhiên thấy vui lên vì không ngờ trong giờ phút tranh tối tranh sáng này, lúc miền Nam đã rơi vào trong vòng tay Cộng Sản, anh Võ Trọng Hầu vẫn không nao núng, cãi tay đôi với tên Việt Cộng lúc bị chất vấn. Đúng là một sĩ quan thuộc binh chủng Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc đó tôi khâm phục anh Hầu vô cùng. Tuy nhiên sau này, khi ở chung trong trại tù cải tạo, anh Hầu đã làm cho sự khâm phục ban đầu của tôi tan thành mây khói.

Trước đây, tôi chỉ biết anh Hầu chứ không quen. Cũng đúng thôi vì lúc đó anh mang lon Thiếu tá, giữ chức vụ Quận trưởng; còn tôi chỉ mới Trung úy, làm gì dám quen thân với anh ấy. Nhiều khi còn không dám gặp nữa chứ nói gì quen với thân! Sau này khi ở chung cùng trại tù cải tạo mới quen nhau. Trong thời gian này, anh Hầu kể cho tôi nghe về anh. Chức vụ cuối cùng của anh là Phó Quân Trấn ở Nha Trang. Anh mới giữ chức vụ này được 10 ngày thì miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản. Đáng lẽ anh trình diện ở Sàigòn, nhưng vì thân sinh còn kẹt tại Huế nên sau đám tang cố Thiếu tướng Phạm Văn Phú, anh về Huế tìm cha mẹ và bị kẹt tại đây luôn. Nhà anh Hầu ở Thành Nội, cùng quận với nhà tôi. Vì vậy, anh và tôi đã trình diện ở phường 1 và được đưa vào cùng chung một trại “cải tạo”.

Sau khi nhận được giấy thông báo phải tập trung tại trường Phan Sào Nam, phường Tây Lộc, Huế ngày… giờ…, tôi chuẩn bị vài vật dụng cần thiết để lên đường đi “học tập”. Lúc lên đường, tôi chỉ vỏn vẹn có 10 đồng bạc miền Bắc và một bộ áo quần dân sự. Người bạn cạnh nhà cho được một chai thuốc “anti-malaria”, trị sốt rét. Thế là tôi xách 3 lá bùa hộ mạng đó lên đường đi “học tập” và mãi 10 năm sau đó mới trở lại quê nhà!

Đúng ngày giờ ấn định theo giấy báo, tôi đến trường Phan Sào Nam trình diện. Tại đây, ngoài anh Võ Trọng Hầu, còn rất nhiều sĩ quan cấp Úy và Tá mà tôi không biết. Duy chỉ có Đại úy Nguyễn Văn Huy, hình như là Trưởng khối CTCT Trung đoàn 56 (?), ở cùng phường nên tôi quen mặt.

Trong buổi trình diện này, một người có vẻ trọng tuổi, mặc bộ quần áo đen, tướng tá coi bộ oai vệ, sau này tôi mới biết là bác Nguyễn Khiêm, cựu Quận trưởng quận Phú Lộc thuộc tỉnh Thừa Thiên. Nghe đâu bác Khiêm đã giải ngũ trước 1974, lúc còn mang cấp bậc Trung tá và từng là cựu Nghị Viên thành phố Huế.

Khi số người trình diện ở trường Phan Sào Nam phường Tây Lộc đã đủ, chúng tôi được lệnh lên xe ca đậu sẵn tại đấy. Sau khi xe chạy qua vài đoạn đường trong Thành Nội thì đậu lại tại một trường tiểu học bên đường. Tại đây tôi thấy đã có 3, 4 chiếc xe đậu sẵn từ lâu. Chúng tôi được lệnh xuống xe vào trong sân trường. Một số đông người cũng đã ở trong sân. Đây mới là nơi tập trung chính của tất cả các sĩ quan chế độ cũ trong phạm vi Thành Nội trước khi xuất phát lên đường.

Chúng tôi phải trải qua khoảng một tiếng đồng hồ với thủ tục kiểm tra các vật dụng mang theo. Sau đó chúng tôi được lệnh lên xe. Đoàn xe độ 4, 5 chiếc gì đó, loại xe đò chở hành khách hồi trước, bắt đầu chuyển bánh rời Thành Nội Huế về phía An Hòa, chạy trên quốc lộ I, hướng ra Quảng Trị. Ánh nắng ban mai đã lên cao, chiếu rọi khắp các cánh đồng dọc theo hai bên quốc lộ. Tôi còn nhớ, ngày bắt đầu đi “học tập cải tạo” là 27 tháng 5 năm 1975. Nếu tính theo Âm lịch thì cũng bắt đầu vào mùa hè nên nắng mới ban mai mà không khí đã bắt đầu gay gắt.

Đoàn xe cứ thế tiếp tục di chuyển trên quốc lộ I về hướng Quảng Trị. Chạy thêm vài cây số nữa, lúc gần tới phi trường Ái Tử, đoàn xe rời quốc lộ I để quẹo trái tiến về phía rừng núi. Chạy vòng vo khoảng hơn một cây số nữa đoàn xe dừng lại. Một người trên xe tôi hỏi tên bộ đội đang canh giữ ngồi phía cuối xe:

- Chúng tôi đi “học tập” ở đâu anh?

Hắn vừa cười vừa trả lời:

- “Học” ở vùng “Giải phóng”. Chỗ nào cũng là quê hương ta cả!

Chúng tôi vẫn không hiểu tại sao đoàn xe dừng lại. Có lẽ mấy anh tài xế muốn dừng lại nghỉ ngơi rồi sẽ chạy tiếp. Lúc đó tôi thấy bốn anh còn trẻ, tuổi khoảng 23, 24, mang ba-lô ngồi nghỉ bên bụi tre sát đường, mồ hôi chảy dầm dề ướt cả bộ áo quần.

Thấy họ mặc quân phục lính Việt Nam Cộng Hòa, tôi lại gần hỏi mới biết đó là những Hạ sĩ quan bị bắt đi “cải tạo” đã hai tháng rồi. Họ đang trên đường từ chợ về trại. Thấy chúng tôi họ cũng đoán là những sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang trên đường đến trại. Họ cho chúng tôi biết vừa đi chợ và trên đường trở về. Chợ cách trại khoảng 15-20 cây số. Vì lâu lâu mới được phép đi chợ một lần nên lần nào cũng phải mua cho đầy ba-lô, mang rất nặng. Họ bảo rằng rồi đây chúng tôi cũng sẽ phải như vậy. Nhiều người ngồi chung xe với tôi nghe vậy trợn mắt tỏ vẻ hãi hùng khi nghĩ tương lai sẽ phải lội bộ 15, 20 cây số để đi chợ!

Sau 15 phút nghỉ ngơi, đoàn xe tiếp tục chuyển bánh và khoảng 12 giờ trưa đoàn xe dừng lại tại một vùng đồi núi cách quốc lộ khoảng 2 cây số đường chim bay. Nơi đây nhiều ngôi nhà tranh xơ xác đã được dựng sẵn tự bao giờ. Sau này tôi mới biết đây là trại “cải tạo” thuộc căn cứ Ái Tử ở tỉnh Quảng Trị, mang tên Trại 2.

Tất cả chúng tôi vừa xuống xe thì một tên bộ đội khoảng 27, 28 tuổi, chân đi cà thọt, khập khiễng đến gần chúng tôi vừa nói vừa chỉ tay vào một ngôi nhà trống trước mặt:

- Tất cả khẩn trương vào hội trường, khẩn trương lên.

Chúng tôi ai nấy đều cảm thấy lạ tai khi nghe 2 tiếng “khẩn trương”. Qua dáng điệu xua tay vội vã của hắn, chúng tôi có thể đoán được hắn muốn hối chúng tôi nhanh lên. Mãi sau này, đi đâu cũng nghe, riết thành quen tai. Quen đến nỗi nhiều anh còn đùa chơi mỗi khi tên cán bộ nào hô “khẩn trương”, họ liền nói thêm:

- Khẩn trương, khẩn trương, nhanh lên, mau lên!

Sau khoảng nửa tiếng nghe thuyết trình do một tên mặc quần áo bộ đội, tuổi cỡ trung niên, mà tôi đoán là sĩ quan trại trưởng, chúng tôi được phân chia vào ở trong những ngôi nhà tranh lụp xụp đó. Chúng gọi đó là các lán. Những người cùng đi một chuyến xe đò với tôi đều cùng ở chung một dãy lán lớn, gọi là K2. Mỗi lán chứa khoảng 7 người. K2 gồm 4 lán. Lán của tôi, ngoài tôi còn có anh Hồ Mãng, Tiểu đoàn trưởng Địa phương quân, anh Bửu, Trung úy ngành Điện tử, anh Thanh, Trung úy ngành Chiến Tranh Chính Trị vùng II, anh Nguyễn Văn Huy, Đại úy Trưởng khối CTCT/TRĐ56 (?), bác Hồ Thục, Thiếu tá Phòng 1 SĐ1BB và bác Phùng, Chi khu phó. Sát lán bên trái cũng có 7 người ở. Tôi chỉ nhớ lúc đó có anh Trần Minh Bảo, Đại úy An Ninh Quân Đội, anh Nguyễn Tốt Đại úy Bộ Binh, anh Trần Minh Trí, Đại úy Trinh Sát. Lán bên phải, toàn cấp Tá trở lên. Sau một vài ngày sinh hoạt, tôi mới biết, trong đó có Trung tá Võ Trọng Hầu mà tôi đã gặp ở trường Phan Sào Nam, Trung tá Nguyễn Khiêm, cựu Nghị Viên thành phố Huế, Trung tá Hồ Văn Thống, Trưởng phòng An Ninh QĐI, Thiếu tá Trần Công Nhường, Tiểu đoàn phó TĐ14PB và 1 hay 2 Trung tá gì nữa, tôi qên mất.

Lúc mới vào trại 2 được vài ngày, vào một buổi chiều, một tên bộ đội độ 19, 20 tuổi, sau này tôi được biết là vệ binh, bước vào lán tôi ở (lúc đó tôi đang đứng ở ngoài). Thấy nó đi vào nên tôi vòng qua bên phải rồi đứng sát vào vách nhà để nghe ngóng. Có tiếng hỏi bằng giọng Bắc từ trong nhà vọng ra:

- Mày tên gì?

- Dạ tên Thục, Hồ Văn Thục.

- Cấp bậc gì?

- Dạ Thiếu tá.

- Mày mà Thiếu tá gì!

Sau đó tôi không nghe thấy tiếng gì nữa, và khoảng vài giây sau, nó ra khỏi lán và đi qua lán cấp Tá ở. Khi nó vào lán anh Võ Trọng Hầu ở, vì tò mò, tôi đi nhè nhẹ đến phía sau lán của anh để lắng tai nghe. Vừa vào trong lán, thấy cây đàn guitare treo ở trên cột nhà, tên vệ binh hỏi ngay:

- Cái đàn này của ai?

Có tiếng trả lời:

- Dạ của tôi.

Nó bèn ra lệnh:

- Đàn một bản nghe chơi.

Từ trong lán vọng ra bài “La Cumparsitare” điệu Tango thật trang trọng, tôi nghe tiếng đàn sao mà xa lạ. Không phải như tiếng đàn của cô kỳ nữ xa xửa xa xưa ở bến Tầm Dương canh khuya đưa khách bên nước Trung Hoa năm nào. Cũng không như tiếng đàn điêu luyện của Thúy Kiều gẩy cho Kim Trọng nghe, tiếng đàn ở đây vọng ra những âm thanh xình xịch, xình xịch, chẳng một chút du dương, hài hòa, mà như thoát đi từ cái thùng bị bể, cho dù đó là điệu Tango nhịp nhàng. Không biết người đàn “cảm động” vì “người đẹp” vệ binh đứng trước mặt đang “chiêm ngưỡng”, hay tài nghệ chưa đạt, những âm thanh phát ra nhiều chỗ đã lạc điệu! Cũng không biết tên vệ binh có đủ khả năng để thưởng thức hay chỉ biết vểnh tai làm bộ, như vịt nghe sấm, mà chưa được nửa phút, đã bỏ đi chả nói một lời!

Chờ nó đi khỏi, tôi bước vào lán. Hỏi ra mới biết người vừa đàn là anh Trần Công Nhường, Thiếu tá Tiểu đoàn phó TĐ14PB. Anh Nhường sợ ở trên núi buồn bã nên mang đàn guitare theo để vừa giải trí vừa học đàn thêm cho thông thạo nên mới xảy ra cái “show” trình diễn bất đắc dĩ vừa rồi.

Quay lại về lán mình, bước vào trong, gặp bác Thục, tôi làm như không biết chuyện đã xảy ra lúc nãy, tôi hỏi:

- Vừa rồi thằng vệ binh hỏi bác gì vậy?

Bác Thục mặt có vẻ bực bội, càu nhàu với cái giọng Quảng Nam cau có:

- Ông nội nó, nó còn con nít mà hỗn hào quá!

- Nó nói sao mà bác bảo là hỗn hào?

Bác Thục không trả lời. Có lẽ bác ta còn đang bực bội, giận dữ. Tôi choàng tay ôm, bàn tay vỗ nhè nhẹ lên vai bác, tìm cách xoa dịu nỗi bực bội đó, lập lại lời tên vệ binh hồi nãy:

- Mày tên gì? Cấp bậc gì? Mày mà Thiếu tá gì?

Nghe vậy, bác Thục nắm bàn tay phải lại, đưa lên cao và dí nhẹ vào đầu tôi và nói:

- Ê, đứng ngoài nghe hết mà còn giả đò hỏi! Anh thấy không, đúng là mấy thằng vô học, hỗn láo.

Tôi chọc:

- Sao bác không đạp vài cái cho chết quách cái đồ hỗn xược đó đi?

Ngày hôm sau, chúng tôi được lệnh tập họp trước sân lán. Tên cán bộ đi cà nhắc chỉ định anh Nguyễn Phiếu, Trung úy, sĩ quan hoa tiêu F5, SĐ1KQ, làm đội trưởng. Lúc tập họp, chúng tôi cũng sắp hàng ngay ngắn, nhìn ngang nhìn dọc, giống như lúc còn trong quân đội. Đến khi tên cán bộ hô:

- Ngồi… xuống.

Lúc nó mới hô chữ “ngồi”, phản ứng tự nhiên của chúng tôi là đồng thanh hét lên “xuống”, thì tiếng “xuống” của nó cũng trùng hợp. Nó cũng lạ mà chúng tôi cũng lạ. Cũng như lần điểm danh đầu tiên, thường khi được gọi tên, chúng tôi có thói quen la to “Có mặt”. Thế là bị dũa:

- Có là có. Tại sao lại thêm cái “mặt” vào làm gì!

Dần dần khi quen rồi, chúng tôi kệ chúng nó hô “ngồi xuống”, “đứng dậy” và làm theo, cũng như khi được gọi tên chỉ đáp “có” là đủ, tiết kiệm được chút hơi sức.

Sau khi đến trại 2 vài ngày, chúng tôi bắt đầu được phân chia công tác lao động. Lao động chính ở trại này chỉ hướng vào việc xây dựng nhà cửa nên phần lớn anh em phải lên núi lấy gỗ về dựng nhà. Số còn lại chia ra lấy củi, cắt tranh, gánh nước tưới rau, đi gánh gạo… Vì lao động chưa quen, ai ai cũng thấy vất vả mặc dù chưa làm liên tục, điêu đứng như các trại sau này chúng tôi đến. Anh em vừa làm vừa nghĩ đến thời gian “học tập”. Không biết bao lâu thì được về. Lúc ra đi, tôi nghe người ta đồn chỉ “học” khoảng 6 tháng, cũng có người nói là 3 năm.

Chúng tôi ở Trại 2 thuộc căn cứ Ái Tử được 2 tháng thì vào một buổi sáng, khoảng 6 giờ, có lệnh tập họp mang đầy đủ “quân trang, quân dụng” để lên đường. Lúc đó anh Ty, Trung úy SĐ1BB, đội trưởng đội tôi chạy đến nói với tôi:

- Anh Điền ơi! Về, về. Chuẩn bị ba-lô mau, mau!

Tôi ngạc nhiên nhủ thầm, “Về, đâu mà nhanh thế! Có thật vậy không?”. Tuy nhiên thấy anh Ty có vẻ phấn khởi quá, tôi cũng vui lây và chuẩn bị ba-lô để lên đường. Sau đó chúng tôi được lệnh di chuyển. Nhiều anh em nghe tin về nên rất mừng rỡ, hăng hái bước đi. Chim trên cành đang hót líu lo như để chào ngày trở lại sau 2 tháng xa cách quê nhà. Nhưng càng đi, tôi thấy núi rừng càng gần. Thế là chúng tôi đều đoán được không phải về mà di chuyển đến một trại khác ở sâu tận trong rừng núi. Những nụ cười tươi như hoa nở đã bắt đầu tắt trên môi. Càng về trưa, trời càng nắng gắt. Người nào người nấy đều bắt đấu thấm mệt, mồ hôi thấm ướt đẫm cả áo quần. Nhiều anh đã mở miệng chửi thề:

- Đ.M. Thế mà cứ tưởng về!

Đi vòng vo tam quốc trên núi, băng suối vượt đèo và mãi gần đến trưa, chúng tôi mới thấy nhà cửa nằm san sát nhau dưới một thung lũng trước mặt. Tất cả đều là nhà tranh. Lúc đó chúng tôi mới vỡ lẽ, đây là Trại 1, thuộc căn cứ Ái Tử.

Chúng tôi vừa đến sân trại thì được lệnh vào ngay hội trường. Nói là hội trường, thật ra đây chỉ là một ngôi nhà lợp bằng tranh, rộng lớn gấp 3 lần cái lán chúng tôi ở Trại 2. Tất cả chúng tôi vừa mang ba-lô kềnh càng vừa ngồi xuống nền đất trong hội trường. Cấp Tá, Úy ngồi lộn lộn cả. Mấy tên cán bộ ở trại này ra hò hét, la lối om xòm. Chúng tôi được lệnh ngồi hai bên hội trường, tránh một khoảng giữa làm lối đi cho cán bộ vào. Khoảng 5 phút sau, một tên có nước da ngâm đen, trạc độ 45 tuổi, mặc bộ quần áo màu ô-liu, áo bỏ trong quần, chân đi dép Bình Trị Thiên, đầu trần, tóc cúp ngắn, cặp kính râm trên mắt; mặt có vẻ đằng đằng sát khí, từ ngoài bước vào hội trường, vừa đi vừa nói lớn với một giọng Bắc kỳ có vẻ giận dữ:

- Năm thằng Trung tá đâu rồi, hả? Năm thằng Trung tá đâu rồi? Sao thấy tao vào không chào, hả? Sao thấy tao vào không chào?

Tên này vừa nói vừa nhìn quanh nhìn quất, liếc trái liếc phải. Thình lình, nó chụp cổ áo của 1 anh ngồi phía bên phải hội trường rồi kéo qua kéo lại và hỏi gằn:

- Mày hả? Mày hả?

Anh bị chụp cổ áo thình lình, không biết trả lời sao, chỉ đành ú ớ trong cổ họng (Sau này tôi mới biết đó là anh Trương Thúc Cổn, Đại úy Lực Lượng Đặc Biệt, và là một trong những người bạn thân nhất của tôi lúc vào trại Bình Điền ở Huế). Tiếp theo, tên này nhảy sang bên trái, tát 2 cái vào mặt một người ngồi ngoài cùng, vừa tát vừa la lớn:

- Mày Trung tá mà không chào tao hả? (Sau này hỏi ra được biết đó là bác Nguyễn Khiêm, Cựu Nghị Viên thành phố Huế. Đến khi vào trại Bình Điền, bác nằm ngủ cạnh tôi và được Việt Cộng trả tự do trước tôi khoảng 2 năm. Nghe đâu bác Khiêm đã qua đời vì bệnh cao áp huyết lúc ở vùng kinh tế mới tỉnh Tuy Hòa).

Sau khi tát 2 tát vào mặt bác Khiêm, tên này đi thẳng một mạch lên sân khấu (vì đây là hội trường nên có sân khấu), rồi kéo cái ghế để sẵn sau cái bàn và ngồi xuống. Đặt đít xuống ghế, nó gỡ cặp kính râm bỏ xuống bàn, một chân dưới đất, một chân co lên với chiếc dép râu chễm chệ trên mặt ghế trông thật thô bỉ, vô học, quê mùa! Sau một vòng đảo mắt nhìn khắp hội trường xuống chỗ chúng tôi ngồi, nó bắt đầu lên tiếng. Nó nói huyên thiên, liên tục gần cả tiếng đồng hồ mới ngưng. Qua những lời trình bày của nó, chúng tôi hiểu được, kể từ giờ phút này chúng tôi mới thực sự bước vào cuộc sống tại trại “cải tạo”. Viễn ảnh tương lai đen tối bắt đầu hiện ra trước mắt làm ai nấy cũng cảm thấy bi quan chán nản. Thì ra Trại 2 mà chúng tôi từng trải qua 2 tháng chỉ là một trại tạm thời. Trại 1 này mới là trại chính.

Sau khi tan hàng ở hội trường, chúng tôi được phân chia thành từng nhóm, mỗi nhóm có một cán bộ hướng dẫn, đưa vào các nhà tranh ở trong trại. Tôi được dẫn vào ở Khối 1. Vừa đặt ba-lô xuống, anh em cũ ở trong khối xúm lại hỏi thăm rối rít. Lúc đó tôi mới biết tại trại này, sĩ quan QL/VNCH thuộc mọi binh chủng đã ở đây được mấy tháng rồi, hầu hết từ cấp Trung tá trở xuống. Sau này mới biết một số người bị kẹt ở bãi biển Thuận An, một số về Huế trình diện nên được đưa lên đây trước. Trong số này có Trung tá Nguyễn Tri Tấn, Trung đoàn phó TRĐ2BB, Thiếu tá Phan Văn Kế, Trưởng phòng 1 SĐ3BB, Đại úy Nguyễn Văn Hòe, LĐ1BĐQ, Đại úy Huỳnh Bá Kiệt, BĐQ v.v…

Vì ở Khối 1 cấp Tá tương đối nhiều nên sau khi tan hàng ở hội trường, tên cán bộ mang kính râm hồi nãy, cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót, bước vào lán tôi trò chuyện. Tên này lại gần chỗ bác Khiêm. Có lẽ lúc trong hội trường nó lỡ trớn tát 2 bạt tai nên bây giờ giả vờ đến chỗ bác ấy “an ủi” vài câu vì sợ cái hành động thô bạo đó quá thất nhân tâm chăng? Đang sắp xếp đồ đạc gần đó, tôi nghe nó hỏi bác Khiêm:

- Đói bụng chưa?

Bác Khiêm trả lời.

- Dạ cũng thấy hơi hơi đói.

Nó nói ngay:

- Đói thì nói là đói chứ hơi hơi gì!

Thế rồi nó bỏ ra đi. Lúc đó khoảng 1 giờ chiều. Sau khi sắp xếp đồ đạc trong lán xong, chúng tôi được phát mỗi người 1 phần cơm. Ai nấy ăn uống ngon lành vì đói bụng đã từ lâu, mặc dù cơm nước chẳng ra gì.

Sau vài ngày chung sống với anh em tại đây, tôi mới biết tên cán bộ mang kính râm hôm vào hội trường là Thơm, cấp bậc Thượng úy, trại trưởng Trại 1 thuộc căn cứ Ái Tử. Mấy hôm sau, chúng tôi được phân chia công tác lao động hàng ngày, trong đó có việc đi gánh gạo ngoài Đoàn đem về trại. Nhờ thế mới biết được tổng quát trại cải tạo Ái Tử thuộc tỉnh Quảng Trị.

Trại cải tạo ở Ái Tử do Đoàn 76 của Bộ Quốc Phòng thuộc ngụy quyền Hà Nội quản lý, đóng tại Quảng Trị. Ban lãnh đạo của chúng đóng gần quốc lộ 1. Trại gồm 5 trại nhỏ. Trại 2 đóng gần Đoàn 76. Đi quanh co về phía Tây Nam vài cây số Sau đó là Trại 5 và cuối cùng là Trại 1. Trại 1 nằm cách quốc lộ 1 khoảng chừng 5 cây số đường chim bay. Nhưng nếu từ quốc lộ vào, đi vòng vo, quanh co cũng mất 10 cây số mới đến trại. Sau những ngày tháng đi củi trên rừng gặp nhau, chúng tôi được biết Trại 2 là trại của các anh thuộc cấp Chuẩn úy và Thiếu úy; Trại 3 và 4 thuộc cấp Trung úy; Trại 5 thuộc thành phần Hạ sĩ quan, binh lính và Nghĩa quân. Riêng Trại 1, lúc đầu cũng có cấp Trung úy, nhưng mấy tháng sau, những anh này được di chuyển sang Trại 3 và 4 nên Trại 1 chỉ còn lại những ai mang cấp bậc từ Đại úy trở lên. Trung bình trại khoảng từ 400 đến 500 người, thuộc đủ quân binh chủng của QL/VNCH. Tất cả những nhà cửa trong trại đều là nhà tranh lụp xụp, một số mới dựng lên sau này do các binh sĩ của QL/ VNCH bị Việt Cộng bắt giam, đưa lên đây “cải tạo” mấy tháng. Vì thế hầu hết nhà cửa đều mục nát, xiêu vẹo. Mới vào trại, chúng tôi đã bị bắt buộc phải lên rừng lấy gỗ, mây, cắt tranh… để xây dựng lại tất cả. Xung quanh các trại đều có hàng rào kẽm gai nhưng rất sơ sài, muốn vào trại ngõ nào cũng được. Có lẽ Việt Cộng chiếm được toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam nên chúng nghĩ chẳng có ai bỏ trốn. Vì thế trong giai đoạn này, chúng chẳng thèm để ý gì đến hàng rào quanh trại cả. Nhà cửa trong mỗi trại được chia ra 2 nhóm biệt lập. Một số dành cho bọn lãnh đạo trại ở gọi là cơ quan hay khung. Số còn lại dành cho chúng tôi, những người bị Việt Cộng bắt vào đây để “cải tạo”, theo danh nghĩa chúng đặt ra, chứ thực chất là tù lao động khổ sai!

Khoảng 7, 8 tháng sau, vào một buổi chiều, có lẽ hôm đó là ngày chủ nhật nên chúng tôi được ở nhà. Chúng tôi thấy một đoàn người từ trên đồi tiến về trại chúng tôi. Đoàn người cũng khá dài, ai nấy đều mang ba-lô nặng trĩu, mặc quần áo giống quần áo Việt Cộng phát cho chúng tôi. Vì thế, dù họ chưa vào tới nơi, chúng tôi cũng đoán được ngay là anh em mình từ các trại khác chuyển tới Trại 1 để ở chung với chúng tôi. Khi họ vừa vào tới sân, chúng tôi ùa ra xem, nhưng bọn cán bộ cản lại nên chỉ còn cách từ xa nhìn tới mà thôi. Sau khi làm thủ tục nhập trại, các anh mới tới được phân phối vào các lán. Cấp Tá Khối 1 và 2, cấp Úy Khối 3, 4 v.v… Thế là chúng tôi ùa tới bắt tay nhau, chuyện trò thân mật. Hầu hết những anh em mới tới đều mang cấp bậc Đại úy trở lên. Tất cả hầu như là sĩ quan thuộc SĐ1BB, Thủy Quân Lục Chiến, Thiết Giáp. Họ đã bị kẹt lại tại bãi biển Thuận An lúc thành phố Huế thất thủ và đã bị bắt đi bộ hàng trăm cây số trên rừng núi Trường Sơn, qua rất nhiều trại, cuối cùng ở Trại Cồn Tiên được mấy tháng và bây giờ được đưa về Trại 1Ái Tử. Trong số các anh mới đến, tôi thấy có anh Nguyễn Ngọc Hồng, Thiếu tá Trưởng phòng Chính Huấn thuộc Khối CTCT/SĐ1BB; anh Trần Công Nhượng, Thiếu tá Trưởng phòng Tâm Lý Chiến; anh Nguyễn Như Quỳnh, Đại úy Trưởng phòng Chính Huấn thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa, bạn cùng khóa với tôi và một số anh khác tôi không được quen biết trước đây. Sau hỏi ra mới biết như anh Phạm Cang, Tiểu đoàn trưởng TĐ7TQLC, anh Lê Quang Liễn, Tiểu đoàn phó TQLC, anh Hồ Văn Chạnh, Đại đội trưởng TQLC, anh Trần Văn Cát, Thiếu tá LLĐB, anh Hồ Văn Vĩnh, Thiếu tá Pháo Binh v.v…

Sau khi các anh ở Trại Cồn Tiên nhập về, chúng tôi lại bị thay đổi vị trí nơi ăn chốn ở, di chuyển từ nhà này sang nhà khác. Cuối cùng, tất cả, được chia thành 9 khối, mỗi khối ở 2 nhà. Khối 1 gồm những anh từ cấp Đại úy đến Trung tá, Khối 2 từ cấp Đại úy đến Thiếu tá. Các khối còn lại thuộc cấp Đại úy. Bố trí nơi ăn chốn ở xong, bọn cán bộ trại bắt đầu phân công chúng tôi làm việc ngay và công tác lao động tiếp tục không ngừng. Dĩ nhiên cũng giống như những trại cải tạo khác, công tác lao động của chúng tôi được lệnh hướng về xây dựng nhà cửa, trồng khoai, trồng sắn, lên rừng lấy gỗ, kiếm củi v.v… Làm liên tục, suốt ngày, suốt tháng, lao động rất cực khổ, lại ăn uống thiếu thốn. Đã thế còn bị dầm mưa dãi nắng tháng này qua tháng khác, năm này qua năm nọ, nên chúng tôi ngày càng mất sức và càng gầy ốm suy sụp rất nhanh.

Chúng tôi ở Trại 1 thuộc căn cứ Ái Tử trong tỉnh Quảng Trị được 2 năm rưỡi thì nhận được lệnh di chuyển ra Bắc để công tác. Đây là một nguồn tin làm chấn động anh em trong trại. Bởi vì ở tù đã 2 năm rưỡi rồi, thân xác đã tiều tụy, nhiều người tinh thần sa sút vì không biết còn bị giam giữ bao lâu. Ấy thế mà giờ đây, chẳng những không nghe gì đến ngày về mà lại còn bị đưa đi “Bắc tiến” khiến ai nấy đều chán nản. Thường thường khi thay đổi chúng tôi từ trại này sang trại khác, từ chỗ nọ sang chỗ kia, bọn cán bộ luôn luôn giữ bí mật và chỉ ban lệnh chừng 15 phút trước khi lên đường để chúng tôi chuẩn bị. Riêng trong trường hợp này, vì phải chuẩn bị để đi xa, ở lại lâu, nên anh em chúng tôi được lệnh nấu cơm trước vào ban đêm. Các anh nằm trong ban trực của nhà bếp lên nhận gạo và bột mì về nấu cũng đã hỏi mấy tên cán bộ giữ kho, nên được biết là chuẩn bị cơm nước 1 ngày đường để ra Thanh Hóa khai khẩn đất đai tại vùng sông Mực. Tin này đã đồn khắp trong trại nên đêm đó ai cũng biết cả. Tất cả mọi người đều thức thật khuya, chuẩn bị những vật dụng cần thiết để ngày mai lên đường “Bắc tiến”. Và cũng tối hôm đó, chúng tôi cũng nhận được lệnh ngày mai lên đường ra sông Mực để công tác. Bọn cán bộ còn nhấn mạnh là xong công tác ở Thanh Hóa, chúng tôi sẽ được trả tự do về đoàn tụ với gia đình. Hầu hết tất cả anh em ai cũng phấn khởi vì chỉ một thời gian ngắn nữa, mặc dầu không biết bao lâu mới được về với gia đình. Tuy nhiên, cũng ngay đêm đó, bọn cán bộ đọc danh sách những người lên đường và đồng thời công bố danh sách những người ở lại tại trại. Danh sách những người ở lại quá ít, vỏn vẹn chỉ trên 20 người, trong đó có tôi. Tất cả những người khác đều có tên trong danh sách “Bắc tiến”. Vì nghe đám cán bộ nói, những người đi “Bắc tiến” sẽ được về sớm, tôi lại nằm trong danh sách ở lại nên cũng buồn thúi ruột mặc dầu không biết tin đó có đúng sự thật hay không!

Nhiều anh đã xin đi công tác để được trả tự do sớm, chứ ở lại thì không biết chừng nào mới có ngày về! Tin này không biết làm thế nào lại bay về thành phố Huế thật nhanh. Thế là có một vài thân nhân ở Huế lên thăm nhưng may mắn được gặp ngay tại quốc lộ 1. Số là khi họ vừa tới quốc lộ 1 thì cũng đúng lúc anh em trong trại đã di chuyển ra tới nơi và vừa kịp ngồi trên đoàn xe chờ khởi hành. Có lẽ đây là vợ của một số anh em tù “cải tạo” đi buôn bán ngang đây, nghe tin đồn chúng tôi bị đưa ra Bắc, không biết làm sao vào thăm, luôn dịp đứng chờ sẵn ngoài quốc lộ hy vọng có thể gặp chồng. Và kể từ lúc số người ở Trại 1 lên đường ra Thanh Hóa, chúng tôi không biết được gì về họ nữa. Mãi 1 năm sau mới gặp lại ở Trại Bình Điền.

Sau khi họ đi, Trại 1 Ái Tử chỉ còn lại vỏn vẹn trên 20 người. Nhìn qua nhìn lại, hỏi quanh hỏi quất, chúng tôi được biết số người còn lại hầu hết nằm trong thành phần mà anh em nghĩ là bị Việt Cộng liệt vào loại ác ôn. Những thành phần như Chiến Tranh Chính Trị, An Ninh Quân Đội, Tình Báo, Lực Lượng Đặc Biệt… và một số người đã từng giữ chức vụ Quận trưởng.

Khoảng một ngày sau, chúng tôi, số người còn lại, được lệnh chuẩn bị lên đường. Anh em bắt đầu đoán già đoán non. Người thì bảo chuyến này bị đưa ra Bắc học “mút mùa” rồi. Người thì nói sẽ bị đưa ra tòa xét xử. Thế là chúng tôi, vừa suy nghĩ lung tung trong đầu vừa chuẩn bị hành trang. Nếu tôi nhớ không lầm, tất cả số người còn lại gồm có: Trung tá Nguyễn Khiêm, Trung tá Võ Trọng Hầu, Trung tá Tôn Thất Việt, Trung tá Cầu (cựu thương binh), Thiếu tá Trần Văn Cát, Thiếu tá Phan Ngọc Vấn, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Hồng, Thiếu tá Trần Công Nhượng, Thiếu tá Nguyễn Đình Hòe, Thiếu tá Đoàn Hữu Tín, Thiếu tá Nguyễn Thuận, Thiếu tá Ngô Hữu Nguyện, Đại úy Trương Thúc Cổn, Đại úy Trần Minh Bảo, Đại úy Nguyễn Như Quỳnh, Đại úy Nguyễn Văn Huy, Đại úy Nguyễn Duy Diễn, Đại úy Bùi Tấn Bẩy, Đại úy Trần Vệ, Đại úy Lê Văn Đáp, Đại úy Tôn Thất Hoàng, Đại úy Đoàn Văn Hiệp, Đại úy Đính, Đại úy Nguyễn Văn Toàn, Đại úy Lê Tấn Ngọc, Đại úy Nguyễn Văn Tâm, Đại úy Tôn Thất Bửu, Đại úy Nguyễn Viết Kỷ và tôi.

Sáng ngày 31 tháng 12 năm 1977, 2 chiếc xe đò chạy đến trại và chúng tôi được lệnh lên xe để đi. Xe chạy quanh co khúc khuỷu theo con đường từ Trại 1 ra phía quốc lộ, nhưng khi cách quốc lộ khoảng 1 cây số thì dừng lại. Sau đó chúng tôi được biết xe dừng lại để chờ 3, 4 chiếc xe ở các Trại 2, 3, 4, 5 cùng đi luôn.

Khi đã đủ số, đoàn xe bắt đầu nhắm hướng quốc lộ 1 chuyển bánh. Người ngồi trên xe gần tôi nhất là anh Phan Ngọc Vấn, Thiếu tá thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 2 bên và Trung tá Cầu, Trưởng Ty Lao Động Thừa Thiên (?). Anh Vấn vừa cười vừa nói với tôi:

- Để xem xe quẹo trái hay phải cho biết. Ông nội nó, nếu quẹo trái là ra Bắc, coi như “mút mùa lệ thủy”, còn quẹo phải thì về Huế.

Bác Cầu chen vào:

- Thì rõ ràng như vậy thôi, mà vô Huế thì theo tôi nghĩ là ra tòa án để xét xử.

Anh Phan Ngọc Vấn tiếp lời bác Cầu:

- Không cần gì hết. Cứ quẹo phải là được.

Anh em ngồi trên xe, ai nấy đều hồi hộp. Đoàn xe đò chở chúng tôi bây giờ cách quốc lộ 200m, rồi 100m, rồi 50m, rồi 10m, rồi 5m… Anh em trên xe nhìn nhau, rồi lại nhìn tài xế, ai nấy tim đập thình thịch như muốn nhảy ra ngoài lồng ngực vì sắp đến khúc quanh định mệnh. Đáng lẽ chúng tôi hỏi anh tài xế thì biết ngay, nhưng vì trên xe có cán bộ đi theo nên chẳng ai dám hỏi. Bỗng tài xế lái xe chậm lại rồi tay phải sang số, mắt nhìn về phía bên phải. Anh Vấn, tôi cũng như bác Cầu đảo mắt nhìn nhau lia lịa, rồi lại quay nhìn tài xế. Mắt bác Cầu sáng rực khi thấy anh tài nhìn về phía bên phải! Anh Vấn cũng đã mỉm miệng cười như đóa hoa hồng nở trên môi. Trong giây lát, anh tài xế cầm vô-lăng quay về bên phải và chiếc xe bắt đầu nhắm hướng thành phố Huế trực chỉ. Anh em ngồi trên xe ai nấy đều mừng rỡ reo lên:

- Về Huế!

Thế là chúng tôi thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được một vật gì quá nặng xuống đất vì đã mang trên vai quá lâu. Lúc đó, tôi ngoảnh mặt lui nhìn lại những chiếc xe chạy phía sau thì thấy một vài cánh tay thò ra khỏi xe, rồi vẫy qua vẫy lại như tỏ ý vui mừng vì được về Huế.

Đoàn xe đò tiếp tục chở chúng tôi chạy bon bon trên quốc lộ, nhắm hướng thành phố Huế. Anh em trên xe bắt đầu chuyện trò vui vẻ, lòng hân hoan phơi phới vì sắp được nhìn lại thành phố Huế thân yêu sau hơn 2 năm xa cách biền biệt. Chẳng mấy chốc xe đã bắt đầu đến ngã ba Huế, rồi quẹo phải, vượt cầu An Hòa, chạy thẳng về phía cầu Bạch Hổ, rồi quẹo trái, tiến thẳng về phía Phú Vân Lâu vào thành phố Huế. Chúng tôi tuy vậy, tới giờ, cũng chưa biết sẽ được đưa về đâu. Bác Cầu thì dứt khoát là xe sẽ vào Thành Nội để ra tòa vì tòa án ở trong Thành Nội. Nhiều người khác lại không nghĩ thế. Họ nghĩ rằng, có thể lên trại tù cải tạo ở vùng Bình Điền (căn cứ Bastone cũ), nằm cách thành phố Huế 22 cây số về hướng Tây. Chiếc xe đầu tiên chở chúng tôi đến đầu cầu mới thì quẹo phải rồi vượt qua cầu. Thế là anh em biết chắc chắn sẽ lên Trại tù cải tạo Bình Điền. Giấc mơ được tòa án xét xử của bác Cầu đã tan thành mây khói. Anh em lại phải tiếp tục cải tạo không biết ngày về. Dù sao đi nữa, “cải tạo” tại vùng rừng thiêng nước độc ngay ở quê nhà, vẫn gần gia đình hơn là đi Bắc. Chúng tôi tự an ủi thế thôi, chứ ở trong rừng 10 năm thì cũng có thấy được cái thành phố quê nhà đâu! Thật vậy, sau này trải qua những đày ải, gian khổ, trăm đắng ngàn cay trong cái Trại “cải tạo” Bình Điền, chốn rừng thiêng nước độc, tôi mới thấm thía cho kiếp tù đày dưới chế độ Cộng sản.

Sau không biết bao lần chạy qua những đoạn đường quanh co, khúc khuỷu, lên dốc xuống đồi, đoàn xe quẹo phải vào một con đường đất đỏ. Vòng vèo theo con đường đất đỏ đó chừng vài trăm mét, chúng tôi thấy Trại “cải tạo” Bình Điền hiện ra trước mắt. Dọc hai bên đường dẫn tới trại, chúng tôi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi. Người đi ra, kẻ đi vào, gồm đủ thành phần, nam, phụ, lão, ấu. Người nào người nấy, tay xách 1, 2 giỏ đầy ắp. Thì ra hôm đó là ngày chủ nhật, thân nhân được phép lên thăm tù ở trại.

Chẳng mấy chốc, đoàn xe chở chúng tôi đã tới sát hàng rào kẽm gai trước cổng trại và dừng lại. Chúng tôi được lệnh ngồi yên trên xe. Lúc này thân nhân lên thăm nuôi qua lại tấp nập trước mặt chúng tôi. Họ đi sát ngang qua xe chúng tôi, nhìn chúng tôi như muốn hỏi chúng tôi từ đâu về. Nhiều anh em đã nói cho họ biết chúng tôi ở Trại Ái Tử mới vào. Có anh bạo gan viết giấy ném xuống nhờ người quen mang về nhà thông báo cho gia đình biết tin. Tôi cũng vội vàng viết vài chữ rồi vo tròn mảnh giấy ném xuống mấy người đang nhìn về phía chúng tôi. Một cô gái độ 19, 20 tuổi, cúi xuống lượm mảnh giấy tôi vừa liệng xuống rồi ngước mắt nhìn tôi. Tôi mở nụ cười và nói thật nhanh:

- Nhờ cô đem về cho vợ tôi. Cám ơn nghe.

Cô gái cũng gật gật nhẹ cái đầu, mỉm một nụ cười đáp lại như tỏ lòng đồng ý, nhét nhanh mảnh giấy vào túi rồi đi ngay sợ có tên cán bộ nào lỡ bắt gặp thì không khỏi rắc rối.

Tội nghiệp, cô gái tôi chưa hề gặp, không quen biết, nhưng đã sẵn lòng giúp đỡ một người xa lạ vì lòng từ tâm, thương người. Cầu mong cô ta có thể tìm được vợ tôi theo địa chỉ đã ghi trong giấy. Nhiều anh thấy vậy cũng bắt đầu làm theo. Thật xui xẻo cho anh Hồ Văn Thống, Trung tá Trưởng phòng An Ninh QĐI. Anh ấy bị cán bộ bắt quả tang lúc vừa liệng mảnh giấy xuống xe, la lối om xòm. Khoảng 10 phút sau, chúng tôi được lệnh xuống xe di chuyển vào trại. Trước mắt chúng tôi, mấy tên cán bộ công an mặc đồng phục màu vàng chạy lăng xăng qua lại để đưa đám tù mới vào trại. Hình ảnh những bộ đồng phục màu vàng đập vào mắt, nhắc chúng tôi suy nghĩ mông lung. Chúng tôi đã được chuyển giao từ bộ đội sang công an quản lý. Bọn công an sẽ đối xử với chúng tôi như thế nào? Có giống như tụi bộ đội ở Trại Ái Tử không? Dù sao đi nữa, nghe tới 2 chữ công an, chắc chắn tụi này sẽ chuyên nghiệp hơn trong việc giam giữ tù tội. Tương lai chúng tôi chắc sẽ chỉ có đen tối và bi thảm hơn thôi! Kể từ giờ phút này, chúng tôi đã được Bộ Quốc Phòng của ngụy quyền Hà Nội bàn giao lại cho Bộ Nội Vụ quản lý.

Vừa vào tới khu đất trống trước cổng trại, chúng tôi được lệnh xếp hàng tư, hướng mặt vào trại. Tên cán bộ quân đội, trưởng đoàn xe dẫn chúng tôi từ Trại Ái Tử bước tới trước và nói:

- Anh nào mang quân hàm theo thứ tự tôi gọi thì lần lượt bước vào cổng trại.

Thế rồi nó hô to:

- Chuẩn úy.

Các anh mang cấp bậc Chuẩn úy vào trước. Lần lượt đến cấp Thiếu úy, rồi Trung úy. Khi thấy hết cấp Trung úy, nó hô:

- Thượng úy.

Không một ai nhúc nhích. Nó nhìn qua nhìn lại, tỏ vẻ ngạc nhiên. Một tên cán bộ quân đội cùng đi theo đoàn xe lại gần ghé tai nói nhỏ:

- Tụi Ngụy làm gì có Thượng úy. Gọi Đại úy đi.

Nó nghệt mặt ra một tí rồi làm theo. Cuối cùng, chúng tôi cũng vào hết trong trại và cánh cửa cổng trại được đóng lại ngay.

Tôi mang cấp Đại úy nên vào sau các anh kia. Vì vậy, khi vào nhà thứ nhất, tôi thấy đã chật ních cả rồi. Tuy thế tôi vẫn đi sâu vào tới cuối nhà và thấy một khoảng giường còn trống. Tôi bèn đặt ba-lô xuống ngay. Một vài anh đến sau cũng đặt ba-lô sát bên tôi.

Khi sắp xếp đồ đạc đã xong, tôi mới biết bên trái tôi là anh Trần Văn Cát, Thiếu tá Lực Lượng Đặc Biệt, bên phải là anh Trương Thúc Cổn, quân nhân biệt phái, giáo sư trường Trung Học Hàm Nghi, cựu Đại úy Lực Lượng Đặc Biệt, kế đó là anh Hồ Văn Thống, Trung tá. Thế là 4 anh em chúng tôi nằm chung một căn nhà và sau này, chúng tôi đã trở thành những người bạn chí thân như hình với bóng cho đến lúc được Việt Cộng trả tự do, dù cho sau đó, 4 anh em chúng tôi mỗi người bị đổi đi những khối khác nhau.

Kể từ ngày vào Trại cải tạo Bình Điền cho đến lúc được trả tự do, tôi đã phải chịu đựng một cuộc sống tù đày trăm đắng nghìn cay thêm 8 năm dài nữa. Bởi vì, kể từ khi bị bọn công an quản lý, chúng tôi đã bị khủng bố triền miên, từ năm này đến năm khác, nên tinh thần rất căng thẳng. Đã thế, chúng còn dùng thủ đoạn cài đặt những tên ăng-ten, luôn luôn rình rập, theo dõi để báo cáo cho chúng mọi hành vi, lời nói của anh em đồng tù, khiến chúng tôi lúc nào cũng phải dè dặt đề phòng. Thêm vào đó, chế độ ăn uống quá thê thảm, chúng tôi lâm vào cảnh đói triền miên. Rồi lao động quá cực khổ, kèm theo chính sách tự phê, tự kiểm buộc chúng tôi phải cật lực nên nhiều cuộc nổi loạn đã xảy ra trong trại.
Năm 1985, tôi cùng một số bạn bè được Việt Cộng trả tự do sau 10 năm quằn quại qua 2 trại tù cải tạo Ái Tử và Bình Điền.

CHƯƠNG 2

Các chế độ trong trại tù cải tạo

Lúc ở trại tù cải tạo”, bọn cán bộ đã bắt chúng tôi học thuộc bản nội quy, trong đó có đề cập đến các chế độ trong trại “cải tạo” như chế độ ăn uống, chế độ thăm nuôi, chế độ học tập, chế độ lao động v.v… Nhưng trên thực tế khi áp dụng, các chế độ ấy hoàn toàn trái ngược hẳn và rất phũ phàng.

A. CHẾ ĐỘ LAO ĐỘNG

Ngay từ khi đặt chân vào trại, mấy tên cán bộ đã tập họp chúng tôi lại để giáo dục về lao động. Chúng nó nghĩ rằng, chỉ có miền Bắc mới có lao động, chứ ở trong Nam hầu hết là ngồi mát ăn bát vàng. Sau đó chúng giải thích rằng, lao động trong trại không bắt buộc mà chỉ tự giác thôi. Làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu, mỗi ngày phải lao động 8 giờ. Nhưng đến lúc bắt đầu ra tay, mọi việc đều trái ngược cả.

Trại Ái Tử thuộc tỉnh Quảng Trị, trong công tác lao động hàng ngày, hầu hết đều chú trọng đến những việc như lên rừng lấy gỗ về làm nhà, cắt tranh về làm mái lợp, dựng vách. Sau khi xây dựng nhà cửa xong thì phải đi đốn củi về cho trại để nấu ăn, hay bán củi để mua thực phẩm như gạo, mắm, muối v.v…

Ban đầu chúng tôi chỉ làm qua loa, đại khái. Vì chưa quen công việc nên từ số lượng đến phẩm chất đều quá kém, không đúng tiêu chuẩn mà bọn cán bộ vạch ra. Thế là chúng tôi bị tập họp lại để nghe chúng sỉ vả, la mắng tơi bời.

Sau đó tiêu chuẩn lao động cho mỗi loại được đề ra và tất cả mọi người buộc phải tuân theo. Từ đó trở đi, anh em phải lao động bán sống bán chết, nhiều khi làm đến kiệt sức mà vẫn không đủ tiêu chuẩn ấn định. Ngược lại, nhiều anh sức khỏe còn quá mạnh nên thường làm về rất sớm, vượt quá tiêu chuẩn, nên những người tương đối yếu hơn thường bị la mắng đủ điều.

Trong thời gian này, mấy tên cán bộ tiếp tục “giáo dục” rằng anh nào muốn về sớm để đoàn tụ với gia đình thì cố gắng học tập cho tốt, lao động cho tốt. Chúng bảo, tư tưởng chỉ đạo hành động. Muốn chứng tỏ suy nghĩ đúng đắn thì phải biểu lộ bằng hành động. Công việc lao động hàng ngày là thể hiện rõ ràng tư tưởng tốt hay xấu. Chẳng hạn, anh lên rừng gánh về một bó củi chắc nịch và đủ trọng lượng quy định sẽ chứng tỏ tốt hơn anh gánh về một bó củi mục nhẹ tênh! Một số anh, có sức khỏe nhưng nhẹ dạ, cả tin vào những lời lẽ phỉnh phờ lừa gạt đó, hy vọng cố gắng lao động tốt, làm vượt chỉ tiêu, để được sớm về đoàn tụ với gia đình! Thời gian càng lâu về sau, một số các anh mới vỡ lẽ và sáng mắt ra. Riêng tôi, vì sức khỏe quá kém nên chỉ lao động qua ngày thôi, chứ làm theo họ, chắc tôi sẽ gục ngã. Nội chỉ gánh 2 bó củi trên vai mang về trại một ngày, tôi đã thấy điêu đứng rồi, nói chi đến đủ tiêu chuẩn “chất lượng”! Công việc đốn củi cũng không đơn giản. Lúc đầu, rừng còn gần trại, dùng rựa đốn đủ số củi bó lại và gánh về, khoảng đường không xa bao nhiêu. Vài tháng sau, cây cối bị đốn sạch, kiếm cây đốn phải đi thật xa. Năm 1976, chúng tôi phải đi bộ hơn 5 cây số mới có cây để đốn. Chưa hết, phải đốn thật nhanh, rồi bó lại thành 2 bó để gánh về. Sở dĩ phải nhanh vì đường về trại khá xa. Làm sao về cho kịp, ăn vội vàng bữa trưa để còn đi tiếp một chuyến củi cho buổi chiều nữa. Như vậy, để có được 2 gánh củi một ngày chúng tôi phải đi bộ khoảng 20 cây số. Công tác đốn gỗ cũng vậy. Nhiều lúc, để kịp thời gian, chúng tôi vừa phải gánh, phải vác vừa phải chạy! Phải lao động như vậy nên hơn hai năm trời ở Trại Ái Tử, chúng tôi, ai nấy sức khỏe cũng đã yếu dần. Đã thế ăn uống lại thiếu thốn, kém dinh dưỡng nên chúng tôi đâm ra liều mạng, chẳng thèm chú ý gì đến những cái gọi là “chất lượng” hay “số lượng” nữa. Mặc bọn cán bộ la mắng, chúng tôi chịu đựng làm thinh, chúng nói chúng nghe.

Tôi nhớ có lần lên rừng lấy gỗ về làm nhà, lúc bắt đầu đi thì trời quang mây tạnh, nhưng khi chiều xuống, một cơn mưa bỗng ập xuống như thác đổ, gió thổi ào ào, nước trên nguồn lại chảy về thật mạnh. Tôi liền vác khúc cây đã đốn lên vai, một cây nhỏ để làm cột nhà, vừa đi vừa chạy nhanh ra khỏi rừng để về cho kịp trước khi trời tối vì trại cách đó khoảng 5, 6 cây số. Khúc gỗ không to, cũng không dài lắm nhưng vì là cây tươi, tôi lại yếu, nên cảm thấy hơi nặng. Đường đi vì trận mưa, đã biến thành bùn nên trơn trượt, khiến tôi té lên té xuống mấy chục lần. Khi đi ngang đoạn đường có một chiếc xe thiết giáp bị hư từ hồi nào nằm bên cạnh, một cái hố bom B.52 chận ngay trên đường đi, nước trong hố bây giờ qua trận mưa lớn đã dâng cao. Qua cái hố bom tới một con suối. Trước cảnh mưa gió dữ dội, nước chảy xiết trên đường, tôi định vất khúc cây để đi về trại cho nhanh. Do dự một lúc, phần sợ bị la rầy không hoàn thành công việc, phần nghĩ rằng mình còn có thể mang về được nên quyết định vác khúc cây qua suối. Tôi thả khúc cây xuống, vừa bơi vừa đẩy vì mực nước lên cao tới cổ. Dầm nước mưa cả mấy tiếng đồng hồ, giờ lại lội nước nữa nên tôi cảm thấy lạnh, run lên cầm cập. Ai ngờ nước trên nguồn suối đổ về nhanh quá. May nhờ gió thổi nên tôi qua được bờ suối bên kia nhanh hơn, suýt nữa gặp dòng nước xoáy cuốn trôi theo dòng nước lũ coi như bỏ mạng ở trên rừng. Sau khi vượt qua được rồi, tôi phải tiếp tục đi thật nhanh để về trại, nếu không trời tối sẽ không biết đường về, có thể bị lạc trong rừng. Lúc đó tôi vừa đi vừa run vì nước ngấm vào người lạnh quá, trên vai lại mang một khúc cây tươi mới đốn, quá nặng so với thể chất yếu đuối của tôi. Đã thế, mưa lại tầm tã như thác đổ, gió mạnh thổi ngược nên phải vất vả lắm mới đi tới phía trước được. Bụng quặn thắt vì đói, mãi đến khi trời tối như mực, tôi mới mò về được tới trại nhờ nhắm theo ánh sáng mấy ngọn đèn le lói trong trại hắt ra. Dĩ nhiên, trước đó, tôi không thể đếm được đã té bao nhiêu lần. Hình ảnh gánh củi hay vác gỗ vừa đi vừa chạy 20 cây số một ngày, té lên té xuống năm lần bảy lượt, khi thì đi dưới cơn nắng hè gay gắt, khi thì đi dưới cơn mưa tầm tã, lụt lội, bão táp cứ diễn ra hàng ngày, hàng tháng, hàng năm trong trại cải tạo khiến cơ thể chúng tôi yếu dần rồi kiệt lực. Trong thời gian ở Trại Ái Tử tại tỉnh Quảng Trị, chúng tôi lao động rất cực khổ. Anh em ai nấy đều sút cân rất nhanh. Nhiều anh em dáng người to cao, rất khỏe mạnh, nhưng sau mấy năm lao động tại Trại Ái Tử đã trở thành thân tàn ma dại vì đã bỏ sức ra quá nhiều. Vì lao động quá khổ cực nên cuối cùng chúng tôi phải tung ra những đòn lao động ma giáo để chống đỡ, dùng đủ mọi phương pháp để đánh lừa cán bộ nếu không sẽ gục ngã ngay. Chẳng hạn như lúc được phân công đi lấy phân trâu hay phân bò về cho trại, chúng tôi đã đi thật sớm nhưng khi qua chuồng thì phân đã hết vì có những người đã đi sớm hơn nữa. Nhiều lúc thấy một con bò đang rặn ỉa, hai người dành nhau lấy rổ hứng để cho mau đầy rổ, nếu không, đi tìm những nơi khác rất khó. Nhiều khi đi suốt cả ngày vẫn không đủ tiêu chuẩn. Bí quá, một số anh em chúng tôi đã phải bỏ thêm vài cục đá phía dưới rồi phủ phân bò hay phân trâu lên để về cân cho đủ ký. Vì thế có lần tên cán bộ Đạo ở Khối 1, khi ra chỗ anh em gánh phân về đổ tại đó, thấy đá nhiều hơn phân nên nó liền tập họp anh em la mắng đủ điều. Mỗi khi mấy tên cán bộ la lối om xòm, chúng tôi lại ngưng hành động một thời gian rồi tiếp tục làm lại vì kiếm suốt ngày trên rẫy vẫn không có phân. Ngay việc đi lặn lấy rong làm phân bón cũng thật vất vả. Nhiều anh gặp may, lặn đúng chỗ có rong thì đỡ. Nhiều người gặp khúc có quá ít rong, nhiều khi lặn cả ngày mà vẫn không đủ 2 gánh. Cuối cùng vì ngâm mình dưới nước lâu nên lạnh quá sợ cảm cúm nên phải lấy bùn bỏ thêm phía dưới rong cho nặng để về cân cho đủ ký. Dĩ nhiên nhiều anh bị phát giác rồi bị chửi bới thậm tệ và cuối cùng phải làm kiểm điểm. Kiểm điểm thì kiểm điểm chứ sức người có hạn cũng chịu thôi. Cuối cùng, lao động 8 tiếng đồng hồ một ngày, nhiều khi làm quá 8 tiếng. Còn lao động tự giác đổi thành cưỡng bức lao động.

Bởi vì những tiêu chuẩn mà bọn cán bộ đề ra, ngoại trừ một số anh em quá khỏe, hầu hết anh em làm không nổi. Thực ra những tiêu chuẩn do bọn cán bộ đưa ra quá sức của tù nhân và mục đích chính là làm chết dần chết mòn anh em trong trại cải tạo. Lao động quá cực khổ, ăn uống lại thiếu dinh dưỡng, nếu tiếp tục làm theo tiêu chuẩn do chúng nó vạch ra thì cũng có ngày bỏ mạng trên rừng thiêng nước độc. Trên đây là những tháng ngày lao động tại trại Ái Tử, chưa nói đến lao động tại Trại Sông Mực ở Thanh Hóa. Tại Sông Mực, anh em còn khổ gấp trăm nghìn lần. Nhiều người đã phải bỏ mạng ở chốn rừng thiêng nước độc. Trong thời gian này bọn cán bộ trại hứa hẹn sẽ cho về khi hoàn thành xong công tác. Nhưng sau khi công tác Sông Mực đã được hoàn thành anh em không những không được về mà còn bị di chuyển vào Trại Bình Điền ở Huế để “được cải tạo” tiếp. Lúc đó anh em mới thấy câu nói thật thấm thía của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm”! Chính sự hứa hẹn cho về rồi không giữ lời hứa của bọn cán bộ Trại Ái Tử là một trong những nguyên nhân khiến tất cả 500 sĩ quan của QL/VNCH trong Trại 4 ở Bình Điền nổi loạn, mà sau này anh em gọi là vụ 20/4.

Sau này khi chúng tôi di chuyển vào Trại Bình Điền công việc lao động hàng ngày có giảm bớt so với công việc tại Trại Ái Tử, nhưng khẩu phần ăn uống quá thấp nên cuối cùng vì thiếu dinh dưỡng, ai nấy mặt mày đều xanh như tàu lá chuối. Công việc lao động vẫn một ngày 8 tiếng, nhiều khi phải làm thêm ngày chủ nhật, gọi là ngày lao động xã hội chủ nghĩa.

Tại đây lao động chính là tăng gia sản xuất, trồng khoai, trồng sắn, phá rừng làm rẫy. Nhưng vì cũng quần quật suốt ngày giữa mưa, giữa nắng, từ năm này qua năm khác, ăn uống không đủ nên anh em đau ốm rất nhiều.

Hàng trăm hàng ngàn ngày, trời nắng như thiêu như đốt, mồ hôi nhễ nhại ướt cả áo quần như tắm, bụng lại đói meo, thế mà mấy tên cán bộ công an đứng sau lưng quát tháo ầm lên khi chúng tôi ngưng quốc đất vì quá mỏi tay:

- Tiếp tục cuốc đi, sao lại nghỉ rồi hả? Cuốc, cuốc, cuốc, cuốc lên.

Thế là anh em cố gắng lắm mới đưa được cái cuốc lên rồi lại thả xuống nghe một tiếng cạch. Vì lúc đó vừa mỏi tay, vừa đói quá, không cuốc được nữa.

Tôi nhớ có lần anh Lê Lợi, Thiếu úy Cảnh Sát thuộc tỉnh Thừa Thiên, vì đói và nắng quá, anh ta không thể cuốc đất được nữa nên giả đò lấy thuốc rê ra vấn rồi châm lửa hút để lấp khoảng thời gian chống cuốc. Chỉ trong khoảng 5 phút, anh ta hút tới 5 điếu thuốc. Cứ mỗi lần cuốc một lát, anh ta lại vấn một điếu để hút. Tên cán bộ dẫn giải thấy vậy bèn la lên:

- Anh Lợi, sao anh hút thuốc hoài vậy?

Anh Lợi trả lời:

- Thèm thuốc quá cán bộ!

Thường thường, khoảng thời gian gần trưa khi cơn đói giày vò cơ thể, chúng tôi không thể nào cuốc đất được nữa. Lúc đó chúng tôi chỉ muốn đứng bất động mà thôi. Nếu mấy tên cán bộ có la lối om xòm thì anh em lại làm bộ cố gắng cuốc cuốc. Cuốc cho có lệ, cho chúng thấy chứ chả có lớp đất nào suy xuyển. Vì mỏi quá, chúng tôi đưa cán cuốc lên một cách chậm chạp, đưa thật cao để rồi thả xuống thật nhanh cho lưỡi cuốc phập xuống đất, ngâm nó lại thật lâu, kéo dài thời gian chừng nào tốt chừng nấy. Cái phương pháp cuốc này tất nhiên không đem lại một hiệu quả nào, đúng như người xưa có nói:

“Đưa cuốc lên thì cò đậu,
Để cuốc xuống thì mối ăn”.

Hình ảnh này xuất hiện hàng ngày, hàng tháng, hàng năm trong các trại tù cải tạo và chắc chắn không trại nào tránh khỏi.

Cho hay, Việt Cộng luôn tìm cách làm cho anh em trong trại cải tạo chết dần chết mòn, từ việc khủng bố tinh thần cho đến sự hành xác đám tù qua công việc lao động khổ sai hàng ngày.

B. CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG

Ai đã từng ở trong trại tù cải tạo của Việt Cộng rồi đều biết rõ được cái chế độ ăn uống như thế nào. Đó là một trong những chế độ tồi tệ và tàn nhẫn nhất so với các chế độ ăn uống trong các trại tù trên khắp thế giới. Chính chế độ đó đã làm anh em trong tù chết lần chết mòn.

Dĩ nhiên ai cũng thừa hiểu rằng vấn đề ăn uống trong tù chắc chắn không thể nào đầy đủ được. Nhưng các trại tù cải tạo của Việt Cộng cho ăn uống quá tồi tệ. Tồi tệ đến nỗi giống như các trại để nhốt súc vật chứ không phải để giam giữ con người. Chúng làm như vậy là có mục đích để giết từ từ đám quân nhân, cán bộ, công chức, cảnh sát của chế độ miền Nam trước đây mà không cần phải dùng súng đạn, tránh được sự chỉ trích của dư luận thế giới. Chỉ so sánh riêng với chế độ ăn uống của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa lúc trước đối với tù binh hay tù chính trị Việt Cộng, đã thấy khác xa một trời một vực. Tù Việt Cộng khi bị bắt giữ hầu hết được ăn uống đầy đủ. Cơm, cá, mắm… trong các bữa ăn là chuyện thường xuyên. Các phái đoàn Quốc tế thường xuyên được ghé vào các nơi giam giữ tù để quan sát. Vậy mà tù Việt Cộng còn nhiều khi làm reo, la làng, tuyệt thực phản đối!

Tôi nhớ có đọc một đoạn văn trong cuốn “Một lòng với Đảng” do Việt Cộng xuất bản tại Việt Nam, trong đó có một nữ phạm nhân tên Phạm Thị Ái, khi được ăn cơm với mắm thì la làng rằng quá cực, ăn uống quá tệ, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đối xử vô nhân đạo!

Đúng là sướng quá hóa cuồng. Trong lúc chúng tôi ở tù, Việt Cộng cho ăn hầu hết là sắn với muối và rau triền miên, từ năm này qua năm khác. Đã thế, sắn và rau hàng trăm, hàng ngàn bữa vẫn không đủ để mà ăn chứ đừng nói đến những thứ khác như cơm với mắm. Vì ăn uống quá thiếu thốn như vậy nên chúng tôi đói dài dài, đói mãi đói hoài, đói liên tục.

Có từng ở trong trại tù Việt Cộng mới thực nghiệm được cái đói như thế nào! Nó làm con người lúc nào cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn. Thậm chí ngủ nằm mơ cũng thấy các món ăn hiện ra trong giấc mộng. Vừa ăn xong mà cứ ngỡ là chưa ăn! Cơn đói nó dày vò cơ thể, bất chấp cả thời gian, không gian. Đói đến liểng xiểng, đói đến quằn quại, đói đến điên cuồng, đói đến tái mặt, mắt mờ, đói đến điêu đứng, đói ngày đói đêm. Đi cũng đói, đứng cũng đói, ngồi cũng đói, nằm cũng đói, đói muốn gào thét kêu trời. Cái đói kéo từ ngày này qua ngày nọ rất khủng khiếp. Không phải chỉ vài phút, vài giờ, vài ngày, vài tháng… mà dai dẳng suốt cả quãng đời tù tội!

Thế nhưng, trên nguyên tắc, chế độ ăn uống trong trại cải tạo theo nội quy rất ngon lành!

Sáng 5 lạng bột, buổi trưa 5 lạng, chiều 7 lạng. Nhưng nếu phân tích kỹ thì khi đem cân sắn để nấu cho tù ăn, sắn còn nguyên trong kho, nghĩa là sắn mới được thu hoạch về còn dính cả đất cát, chưa kể vỏ sắn cùng cùi sắn (chang). Bởi vậy, sau khi chặt đầu, chặt đuôi, lột vỏ để nấu, cuối cùng phần mỗi người còn lại cũng chỉ được chừng 5 lạng sắn chín, chưa nói đến sắn bị xơ hay bị đắng vì rễ tranh xuyên qua. Gọi là 5 lạng nhưng lãnh ra chỉ được 4, 5 khúc mì nho nhỏ. Bỏ vào miệng nhai, nuốt xong là thấy đói ngay! Để bù vào cho đầy bao tử, chúng tôi phải húp một tô canh rau hay bầu gì đó, vài cọng rau muống hay vài lát bầu, còn lại toàn là nước, nên chúng tôi gọi nó là “canh toàn quốc”! Tuy vậy, chế độ ăn uống cũng bất thường. Có tháng ăn một ngày 3 bữa sắn, có tháng một ngày 2 bữa sắn, 1 bữa bắp hay một bữa cơm v.v…

Nghe nói đến cơm, anh em trong trại tù cải tạo rất mừng. Nhưng, đến khi nhận khẩu phần, mỗi người chỉ lãnh được một chén rất nhỏ. Cái lý do thật đơn giản.

Một thí dụ như thế này. Toán nhà bếp ra kho lãnh gạo về trại nấu cơm. Tiêu chuẩn mỗi người 2 lạng cho một ngày. Trại có 400 tù, tổng cộng sẽ nhận 80kg. Phải nói thêm, lâu lâu tù mới có diễm phúc được ăn gạo, ngày lễ ngày Tết chẳng hạn. Gọi là gạo trắng, nhưng số gạo chúng cho tù ăn thường là số gạo tích trữ lâu ngày, từ những căn cứ trong vùng Trường Sơn thời chiến tranh đem về. Đa phần bị mọt, mục cũng như thất thoát rơi vãi trên đường di chuyển. Một bao gạo chỉ còn chừng 70 đến 80kg là cùng. Tên cán bộ coi kho hậu cần dựng bao gạo và nói với toán nhận gạo:

- Đây là bao gạo chúng tôi đã ký nhận 1 tạ. Phần của trại là 80kg. Tôi lấy lại 20kg. Còn lại của các anh.

Thế là nó xúc ra và cân đúng 20kg đàng hoàng trước sự chứng kiến của đám tù nhà bếp. Như vậy số gạo còn lại cho cả trại dĩ nhiên phải thiếu hụt. Chưa kể, sau khi vo, phần gạo mục, mọt bị tiêu hao đi nữa. Đó là lý do tại sao mỗi người chỉ còn lãnh được một chén cơm nhỏ xíu!

Ở trại tôi tại Bình Điền, có anh Nguyễn Văn Báu, Thiếu úy thuộc phòng 7, đã lấy nắp bi-đông ra lường gạo vào xem thử khẩu phần của mỗi người được bao nhiêu. Anh ta đếm được khoảng trăm hột. Thật thê thảm!

Bởi vậy, bữa nào ăn xong vẫn thấy khó chịu vì bụng hãy còn đói, nhất là những ngày tháng ăn khoai liên tục. Riêng về vấn đề chất đạm trong khẩu phần bữa ăn, phải nói là thiếu quá nhiều cho cơ thể. Như đã nói ở trên, mỗi năm chỉ họa hoằn vài ngày lễ, Tết, tù mới được ăn thịt. Mỗi lần vỏn vẹn 1, 2 lát bằng ngón tay cái, mỏng dính.

Có lần khi chúng tôi vừa từ Trại Ái Tử đổi về Bình Điền được khoảng vài ngày thì nghe tin trại sắp mổ 11 con heo để anh em trong trại ăn. Anh em ai nấy vui mừng như ngày hội. 11 con heo cho 500 người, vị chi trung bình 50 người 1 con cũng ngon lành. Nhưng đến khi nhóm nhà bếp (Việt Cộng gọi là anh nuôi) bắt heo vào làm thịt, anh em mới vỡ mộng! 11 con heo, mỗi con lớn cỡ cái lon ghi-gô đựng sữa bột. Chẳng qua bầy heo con trại nuôi chẳng may trúng gió gì đó, lăn cổ ra chết, bọn cán bộ không thèm ăn, đem gán cho đám tù và báo cáo là mua thịt cho trại viên ăn để tính tiền trong sổ sách. Trưa hôm đó, mỗi người nhận được một lát thịt bé tí và một muỗng nước thịt kho!

Nói cho ngay, kể cả những ngày lễ, Tết, anh em tù vui mừng vì ít ra cũng có tí chất béo vào người nhưng thật sự chỉ có đám cán bộ mới phủ phê, no đủ. Vì vậy mới có 2 câu đối sau đây được truyền tụng trong trại:


“Kiểng đánh, chó tru, tù đi ngủ,
Cờ treo, heo chết, vẹm ngồi cười”.

Như đã đề cập ở trên, chế độ ăn uống trong trại tù cải tạo rất thê thảm. Vì vậy nhiều lúc đi lao động về thấy bụng đói quá, gặp anh em nào chia chác phần ăn không đều, thế nào cũng có chuyện xích mích xảy ra. Tình đoàn kết đôi lúc không còn giữ được chỉ vì anh em không chế ngự được bản năng của mình. Cái hơn thua một miếng ăn nho nhỏ, một củ sắn, một muỗng muối…, vì cái đói triền miên, đã làm con người không còn giữ được tư cách của mình!

Bởi thế, khi bản năng con người đòi hỏi mà không được đáp ứng thỏa đáng, ai không kềm chế được sẽ trở nên tầm thường và bị người khác khinh bỉ. Thảo nào một nhà xã hội học Ý, ông G. Mosca, từng nói: “Bản năng là nguyên nhân sự liên kết và chia rẽ trong một xã hội nào đó. Và cũng là lý do của sự xung đột về tinh thần, nhiều khi đưa đến sự xung đột về thể xác”. Dĩ nhiên, tôi chỉ muốn nói đến một vài người thôi vì họ không chế ngự được bản năng của họ. Chính những người này vẫn được thân nhân lên thăm đều đặn, chứ không phải quá thiếu thốn so với những anh em “mồ côi”, không có ai lên thăm. Ngược lại, có những anh, chẳng có ai bới xách cả, họ vẫn đàng hoàng, đứng đắn. Bởi vì, họ biết chế ngự bản năng tầm thường của con người. Họ, lúc nào cũng được bạn bè nể vì, kính trọng. Nói chung, trong một tập thể, không thể tránh được những con sâu làm rầu nồi canh. Dầu sao, đại đa số anh em tù cải tạo vẫn còn giữ được khí tiết của mình, chịu đựng gian khổ, không khuất phục vì những thủ đoạn trả thù tàn ác, thâm độc của Việt Cộng.

Để đối phó với cái đói triền miên, anh em tù cải tạo phải tìm đủ cách để sống còn. Nhiều lần cuốc đất, tôi bắt được một bụi sắn nằm lâu ngày, vì đói quá, tôi lấy cuốc cào sơ lớp vỏ bên ngoài rồi bỏ vào miệng nhai thật ngon lành. Cái đói khiến cho tôi có cảm giác củ khoai mì ngọt như đường và ních một bụng no nê. Khẩu phần trưa hôm đó, tôi để dành nhập lại với phần buổi tối ăn cho đã bụng.

Thường thì củ sắn ăn sống rất độc, nhưng có cái độc nhét cho đầy bao tử vẫn hơn là đói. Được lúc nào hay lúc đó. Que sera sera? (Biết ra sao ngày sau?). Bởi vì hàng ngày Việt Cộng đã bắt ăn độc dược đó rồi thì chạy đâu cho thoát khỏi ăn sắn. Biết sắn là một loại thực phẩm có độc dược nên Việt Cộng cho tù nhân ăn để đỡ tốn cơm gạo. Chưa kể, ăn sắn nhiều còn làm trí óc con người ngu đần. Dù sắn được ngâm trong nước chất độc vẫn còn.

Những nghiên cứu khoa học cho thấy, trong sắn có acit xyhadric, là một chất làm cho trí óc con người trở nên trì độn, nếu ăn lâu dài. Từ năm 1906, nhà bác học Dunstan đã khám phá trong sắn có chất linamarin và chất glucozit xyanogen. Khi ăn sắn nhiều quá và nếu gặp chất độc này sẽ bị nôn mửa và chóng mặt ngay. Đây là bệnh cấp tính. Theo diễn tiến này thì chất HCl (acit xyahydric) đã ngăn cản sự trao đổi oxy của máu với các tổ chức gây ngạt của tế bào. Riêng bệnh mãn tính, vì ăn sắn quá nhiều, lâu ngày chất độc trên ngấm vào trong máu nhiều. Cứ 100ml máu có 1ml SCl (Thioxyanat). Hai nhà bác học A. Ermans và C. Thilly cho biết rằng chất SCl vào tuyến giáp trạng và tách rời Iốt với Tyrozin và đẩy Iốt ra ngoài. Vì vậy, theo các nhà bác học trên cho biết, ăn sắn nhiều quá sẽ mắc bệnh bướu cổ (nếu vùng đó không có chất Iốt trong nước) và bệnh ngu si đần độn. Vì thế anh em trong trại tù cải tạo được trả tự do, người nào người nấy cũng có vẻ ngu ngô, ngơ ngác, cũng vì một phần ăn sắn quá nhiều.

Vì khẩu phần ăn uống quá ít lại không đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể, nên anh em trong tù đã phải tự tìm thêm rau ráng hay bất cứ thứ gì có thể ăn được để nhét vào bụng. Danh từ Việt Cộng để diễn tả cái việc này là “cải thiện” hay “cải hoạt”. Tất cả mọi sinh vật nào xuất hiện trước mắt tù đều khó có thể thoát được. Bất kể ở đâu, trên đường đi, trong rừng, ngoài rẫy… từ con cào cào, châu chấu, cóc, nhái, ễnh ương, bò cạp, rắn, rít… một khi bị chộp là bị xơi tái ngay trong nháy mắt. Thành thử mới có câu: “Con gì nhúc nhích được là ăn được”.

Chỉ cần một con rắn to bằng ngón tay út bò ngang qua trước mặt là ít nhất 5, 3 người đuổi theo đập chết, lột da nướng ăn ngay. Tôi còn nhớ, anh Võ Trọng Hầu đã ăn một con kiến tóc thật ngon lành. Anh Trần Hữu Lực rang một nồi châu chấu đầy ắp và ngồi nhai ngau ngáu như ăn tôm rang… Chính vì ăn uống như vậy nên anh Lực đã trút hơi thở cuối cùng tại Trại Sông Mực ở Thanh Hóa vì ăn trúng mật cóc. Có lẽ anh đã rửa không khéo để mật cóc chảy ra dính vào thịt nên mới bị chứ thịt cóc ăn không sao. Riêng anh Hồ Xuân Anh, có lần đã bắt 2 con nhái bỏ vào túi áo. Khi tập họp để đi về trại, bỗng 2 con nhái nhảy ra rơi xuống đất làm anh phải chạy quanh để bắt lại khiến anh em chung quanh cũng bỏ hàng dí theo phụ giúp. Tên cán bộ quản giáo từ xa đi tới cũng không hiểu tại sao anh em đã vào xếp hàng ngay ngắn rồi lại tự dưng biến thành lộn xộn như vậy.

Cũng vì chế độ ăn uống quá tồi tệ nên nhiều anh đã sụt ký thê thảm. Anh Thức, Đại úy Pháo Binh, sụt 20 ký. Anh Trần Văn Cát, Thiếu tá LLĐB cũng mất 20 ký. Hầu hết anh em sụt ký rất nhanh. Ăn uống đã không đầy đủ, lao động lại quá nặng nhọc nên nhiều người đã ngã bệnh. Không có thuốc men, bịnh nhẹ lâu ngày cũng thành nặng, một số do chữa trị không kịp đã trút hơi thở cuối cùng trong trại tù cải tạo.

Dĩ nhiên không phải chỉ Trại 1 ở Bình Điền anh em ăn uống quá thiếu thốn mà các trại 2, 3, 4, 5 thuộc trung tâm Bình Điền, cũng như hầu hết tất cả mọi trại tù cải tạo trên toàn quốc, đều có tình trạng như vậy.

Tôi nhớ có lần lên rừng lấy gỗ về làm nhà, khi đi ngang chỗ anh em Trại 2 đang phát rừng làm rẫy, thình lình nghe một tên cán bộ la lớn:

- Tại sao lại ngưng làm việc hả? Tại sao?

Không biết hứng bất tử sao đó, tôi buột miệng:

- Ai biểu cho người ta ăn đói quá thì phải ngưng thôi!

Nói xong tôi và anh Trần Minh Bảo tiếp tục khiêng khúc gỗ đi. Nào ngờ một phút sau, nghe có tiếng chân chạy thình thịch sau lưng. Thì ra đó là hai tên cán bộ mới la mắng anh em đầu kia chạy theo để chận tôi lại. Tên cán bộ quản giáo mang súng Colt, tên cán bộ dẫn giải mang A.K, mặt mày chúng có vẻ đằng đằng sát khí. Khi bắt tôi đứng lại xong, tên quản giáo quát:

- Mày vừa nói cái gì hả? Mày vừa nói cái gì ? Liệu hồn nghe chưa!

Thế là nó đưa tay lên vuốt cằm tôi như muốn chọc tức rồi bỏ lui về chỗ cũ. Lúc đó máu trong người tôi như muốn sôi lên sùng sục. Tôi định vất khúc gỗ nặng đó vào hai tên oắt con mất dạy đang huênh hoang trước mặt. Nhưng nghĩ lại, biết mình đang ở trong thế cá chậu chim lồng nên đành ngậm đắng nuốt cay. Tội cho anh Trần Minh Bảo, anh ta phải đứng như vậy mấy phút với tôi vì anh ấy cùng khiêng với tôi một cây cột. Đối với anh Bảo, đứng chịu như vậy ít phút chả thấm thía gì vì anh rất mạnh. Hồi học Luật với tôi ở Huế, anh từng là võ sĩ nhu đạo đai đen. Anh rất thích môn võ nhu đạo và hay tập luyện với Liên Thành, cựu Trưởng ty Cảnh Sát Thừa Thiên.

Nói cho đúng, cho tù cải tạo ăn uống tồi tệ là chính sách chung của Việt Cộng nhằm giết lần giết mòn những người đã từng phục vụ cho chế độ đối kháng với chúng trước kia. Vì vậy, tất cả anh em luôn luôn phải tìm cách mưu sinh để tồn tại.

C. MƯU SINH ĐỂ TỒN TẠI

Cái diễn tiến theo tỷ lệ nghịch, một bên ăn uống quá thiếu thốn, một đàng lao động quá nặng nhọc, sức khỏe anh em trong tù cải tạo ngày càng giảm sút.

Trong cuốn Almanac xuất bản tại Việt Nam năm 1985, tôi thấy có một bài nói về số nhiệt lượng (calories) đối với cuộc sống hàng ngày. Người ta phân ra 4 loại lao động với số nhiệt lượng cần phải có:

- Loại 1: Việc nhẹ bình thường, cần 3.000 calo.
- Loại 2: Lao động cơ khí, cần 3.500 calo.
- Loại 3: Lao động nặng về chân tay, cần 4.000 calo.
- Loại 4: Lao động căng thẳng về thể lực, cần từ 4.000-5.000 calo.

Sự nghiên cứu còn cho thấy:

- Ngủ 1 giờ: Mất 46,5 calo.
- Nghỉ 1 giờ: Mất 71,5 calo.
- Đi lại 1 giờ: Mất 100 calo.
- Việc nhẹ 1 giờ: Mất 12,1 calo.
- Việc nặng 1 giờ: Mất 302 calo.

Trong lúc đó:

- Gạo 1 lạng cho: 347 calo.
- Bầu 1 lạng cho: 12 calo.
- Cải 1 lạng cho: 12 calo.
- Rau muống 1 lạng cho: 20 calo.

Nếu làm một bài toán cộng, trừ, nhân, chia, thì ai cũng thấy rằng anh em ở trong trại tù cải tạo hàng ngày, với khẩu phần ăn uống như tôi đã trình bày ở phần trên, không thể đủ số nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho công tác lao động trong trại đòi hỏi từ 4.000 đến 5.000 calo.

Với khẩu phần như vậy, chúng tôi chỉ thu vào cơ thể được chừng 1.500 calo. Như vậy trung bình mỗi ngày thiếu mất 3.000 calo. Đây là lý do khiến số nhiệt lượng dự trữ trong cơ thể phải được tung ra hết để bù đắp vào số thiếu hụt đó. Một khi số dự trữ đã xử dụng hết, cơ thể con người phải kiệt quệ, huống hồ lại cứ phải tiếp tục lao động nặng ngày này tháng nọ thì làm gì không gục ngã!

Cho nên để có đủ số nhiệt lượng cần thiết trong công việc lao động bị cưỡng bách đó, anh em trong tù phải tự tìm cách mưu sinh hầu có thể duy trì mạng sống, để tồn tại. Thiếu dinh dưỡng, cơ thể con người sẽ bị đào thải theo luật tuần hoàn của vũ trụ. Không tìm cách mưu sinh, cải thiện cuộc sống của chính mình, con người sẽ đói mà chết. Đó là lý do khiến anh em trong các trại tù cải tạo ăn đủ thứ sinh vật trên đời: rắn, rít, dế, kiến, cào cào, châu chấu, chuột, cóc, nhái, ếch, ễnh ương, bò cạp v.v…

Vì vậy, mỗi lần ra ngoài rẫy để lao động, anh nào cũng có một bao cát để khi “thu hoạch” được “chiến lợi phẩm” thì bỏ vào rồi cuộn trong lưng dấu, đem về trại nấu nướng. Lúc còn ở Trại Ái Tử, hầu như bữa cơm nào, ai cũng có kèm theo một rổ rau má hoặc rau tàu bay để ăn thêm cho đầy bao tử. Ăn rau tàu bay nhiều quá, một số anh mặt mày xanh như tàu lá chuối. Ăn rau má đỡ hơn nhiều lại giải nhiệt, sát trùng, nhưng kiếm rau má cũng không phải dễ dàng gì. Có anh bị nhiệt, nóng trong người, tiểu ra máu, đi tìm rau má để chữa bệnh thôi cũng không còn nữa!

Một số anh, khi còn ở Trại Ái Tử, buổi trưa không ngủ, vác cần câu đi câu cá hay làm bẫy bắt chồn, thú rừng. Hầu hết cơ thể mọi người đều thiếu chất mỡ nên khi thu hoạch cây sắn, anh em thường tìm bắt mấy con nhộng nằm trong thân cây sắn rồi nướng ăn. Con này, anh em gọi nó là con đuôm. Bắt được đuôm, anh em mừng rỡ, bỏ lên than nướng ngay. Nhìn thấy mỡ chảy rớt xuống than nóng nghe kêu xèo xèo, ai nấy đều chảy nước miếng. Sau đó, bỏ vào miệng, nhai vội vàng rồi nuốt ực vào bụng một cách ngon lành!

Có một anh, lâu ngày tôi đã quên tên, tình cờ thấy một tổ chim có mấy con chim con còn đỏ au, chưa “chập bị lụng”, anh ta liền cầm lên bỏ vào miệng ăn một cách ngon lành. Đây là một lối ăn gỏi độc đáo chưa từng thấy trên đời, chỉ thiếu có tí chanh, muối tiêu và rau sống mà thôi.

Cũng anh này, một hôm đang loay hoay đào một bụi sắn thì một bác nông dân từ xa đến hỏi:

- Làm gì đấy cậu?

- Dạ bắt con nhái.

Anh ta trả lời tỉnh bơ khi vẫn còn ở thế nằm úp bụng xuống đất, tay moi moi vào cái lỗ tìm con nhái bén.

Hết tháng này sang tháng nọ, hết năm nọ qua năm kia, ai ai cũng nghĩ đến cách “cải thiện”, tìm cái ăn thêm ngõ hầu chống cơn đói thường xuyên hành hạ bao tử, bồi đắp phần nào cho cơ thể ngày càng suy sụp vì không đủ dinh dưỡng.

Cũng vì việc mưu sinh để sống còn mà khối tôi suýt bỏ mạng 3 người. Đó là các anh Trần Giác, Đại úy Tiểu đoàn trưởng Địa Phương Quân, anh Nguyễn Văn Huy, Trưởng khối CTCT Trung đoàn và anh Nguyễn Hữu Hiên, bác sĩ một Chi đoàn Thiết Giáp. Ba anh này sau khi đi lấy củi về, vừa ra khỏi rừng thấy một ổ nấm, mừng quá, nhào tới hái. Thấy loại nấm này hơi lạ so với nấm mối trước kia từng hái, anh Huy nói với 2 anh kia:

- Chắc không phải nấm mối đâu!

Bác sĩ Hiên quả quyết:

- Tôi bảo đảm là nấm mối, cứ hái đi.

Cả ba bắt đầu ra tay. Người mồi lửa, kẻ hái nấm, anh rửa. Sau khi nấm đã chín, cả ba ngồi chén một bụng đã đời vì ở trên rừng, có nấm ăn thì nhất trần gian rồi, còn gì bằng!

Khi ba anh vừa về đến trại thì nghe bụng chuyển sôi òng ọc, người nào người nấy, mồ hôi toát ra như tắm. Cả ba bỗng nhiên chóng mặt rồi mửa ra mật xanh, mật vàng. May mà kịp đưa lên bệnh xá, bác sĩ và y tá chữa kịp, nếu không, coi như vĩnh biệt cõi đời. Cũng may, nhờ bác sĩ (bác sĩ QL/VNCH cùng tù trong trại) tận tình cứu chữa nên họ thoát chết.

Thường mưu sinh là do cá nhân từng người, tùy theo hoàn cảnh, tự lo liệu cho bản thân mình. Tuy vậy, cũng có nhiều đội nhất trí cải thiện cùng một lúc và nấu ăn chung toàn đội.

Có một lần ra rẫy lao động, mấy anh thuộc Đội 2 đã công khai tấn công một vườn bí và khi thu hoạch xong còn mở miệng kêu:

- Ắc là, ắc là.

Thế là các anh ấy xách bí ra rẫy nấu ăn chung. Lần khác, một anh Chuẩn úy, trên đường về trại sau khi lao động xong, bị một tên cán bộ chận lại lục soát xem anh có chặt mía đem về không. Vì trời mưa lâm râm nên anh em vừa đi vừa chạy. Tên cán bộ kia cũng bị ướt cả bộ quần áo nên kiểm soát anh hơi nhanh, bắt anh ta vén áo lên. Lợi dụng trời mưa, anh ta giả đò run vì lạnh, mở nút áo chỉ để lộ lỗ rún mà thôi và nói:

- Có gì đâu cán bộ, không có gì đâu!

Tên cán bộ thấy lỗ rún mà chẳng thấy khúc mía nào cả nên cho anh đi. Ngờ đâu hai bên hông và phía sau lưng, anh ta nhét đến 5 khúc mía. Vào trại, anh kể lại, ai cũng cười vỡ bụng. Vì thèm ngọt, thấy mía là anh em làm thịt ngay.

Cũng vì vụ mía này mà tên cán bộ Xá, cán bộ quản giáo Đội Rau xanh, bị ban giám thị trại hỏi thăm sức khỏe mấy lần. Tên Xá này là một cán bộ chịu chơi, còn độc thân. Nó thường chống ban giám thị và thỉnh thoảng có giúp đỡ tù nhân. Cứ mỗi lần kẻng giải lao, nó cho anh em Đội Rau xanh chặt mía sau nhà Lô ăn tự do. Tuy nhiên lần nào nó cũng dặn dò, ăn xong phải đào lỗ chôn bã mía để phi tang, nếu không tên cán bộ Danh biết, nó sẽ bị kiểm điểm. Tên Danh là cán bộ đặc trách tổng quát chỉ huy mấy tên cán bộ quản giáo. Thế là anh em trong Đội rau xanh tha hồ mà ăn. Cả một sào mía, chỉ mấy ngày còn rải rác vài bụi! Thấy vậy tên Xá sợ ban giám thị quở nên không cho ăn nữa. Nó không ngờ anh em “phơ” mía nhanh như vậy. Anh em thèm đồ ngọt vì đã mấy năm trời không được thân nhân thăm nuôi. Hạn hán lâu ngày gặp “mưa rào”, anh em Đội Rau xanh đã tận tình, tốc chiến tốc thắng với cơ hội kiếm chất ngọt ngàn năm một thuở!

Thực ra, tên cán bộ Xá này là một trong những tên cán bộ bị ban giám thị trại trù dập nên nó bất mãn nên làm cho bõ ghét chứ chưa hẳn là nó tốt gì với đám tù cải tạo. Nghe đâu sau này nó bị sa thải khỏi nghành công an. Có một lần trong giờ giải lao, anh Nguyễn Châu, 56 tuổi, bị đưa vào trại vì tội vượt biển, trốn ra ngoại quốc bất hợp pháp, đã ngâm cho anh em và tên cán bộ nghe một đoạn trong truyện Kiều, nói về khoảng thời gian Thúy Kiều bắt đầu đi “làm đĩ” (theo lời anh Châu). Sau khi anh Châu ngâm xong, anh em vỗ tay khen ngợi, tên Xá thưởng cho anh 2 trái mướp ngọt. Đúng là một cách mưu sinh bằng văn học nghệ thuật! Ngược lại, có nhiều lối mưu sinh bằng lao động đến đổ mồ hôi, sôi nước mắt mà chẳng được bao nhiêu. Đó là vụ thi đua gánh sắn của đội tôi. Trong vụ thi đua này, tên cán bộ quản giáo treo giải thưởng, ai gánh nặng nhất sẽ được thưởng 2kg sắn tươi.

Thế là những tay khỏe mạnh nhất trong đội bắt đầu gồng mình, chất sắn cao ngất, ngập cả đôi trạc. Kết quả: một bác gánh nặng đến 103kg, một anh khác, Trung tá, gánh được 102kg, kế đó một Đại úy TQLC, gánh được 101kg. Phần tôi, vỏn vẹn 35kg. Ba người gánh nặng nhất được thưởng mỗi người 2kg sắn tươi. Trong khi đó có một anh chỉ gánh được 35kg, tự thưởng cho mình củ sắn thật to, khoảng 4kg, bằng cách dấu chúng trong ống quần dài, gói lại cẩn thận, cầm theo bi-đông nước và cặp cái nón lá che lại, đi vào cổng trại tỉnh bơ! Có một anh, qua vụ thi đua này vì cố sức bị té gẫy tay, phải băng bó một thời gian mới lành. Để đổi được 2kg sắn tươi, đây là cái giá khá đắt!

Xem thế đủ thấy anh em trong trại tù cải tạo đói đến mức độ nào. Vì ăn uống thiếu thốn nên cái gì cũng thèm cả, từ chất ngọt đến chất béo v.v… Đó là những chất cấp cứu cho cơ thể nên chỗ nào có là anh em nhào tới ngay.

Nhiều anh em lâu ngày thèm mỡ quá đến nỗi không chế ngự được bản năng dinh dưỡng của mình nên đã có một vài hành động đáng lẽ không nên làm. Một trường hợp điển hình, chính mắt tôi chứng kiến vào một buổi chiều. Khi anh em đang chờ đợi kẻng báo nghỉ việc để vào trại vì cán bộ cho nghỉ sớm hơn thường lệ, một anh đang cùng đứng chung với cả nhóm gần 40 người quanh một hố rác, bỗng thấy một hột đậu phộng nằm dưới hố. Cái hố rác, lổn ngổn đủ thứ xà bần, bốc mùi, ruồi bọ lúc nhúc, anh ta không ngại ngùng, bước xuống hố, nhặt hột đậu phộng lên, ngón tay vê vê, gạt lớp bụi bặm, dơ dáy bên ngoài và bỏ lỏm vào miệng nhai nhem nhép trước những cặp mắt của mọi người!

Tôi không quen, nghe anh em đồn anh ta mang cấp Thiếu tá. Tôi tự nhủ, phải chi anh ta chỉ là một cấp nhỏ trong quân đội thì đỡ xấu hổ biết mấy. Là sĩ quan cấp Tá, anh ta chắc cũng đã từng chịu nhiều gian nan khổ ải với cuộc đời binh nghiệp. Tại sao chỉ vì thèm khát chút chất béo mà hành động như vậy trước mặt đám đàn em của mình! Ai trong hoàn cảnh này mà không thèm chất béo. Cải thiện kiểu này thì quả thật nhục nhã vô cùng!

Có một thời gian, tôi nằm cạnh một anh Thiếu tá. Chiều nào tôi cũng thấy anh hâm một cục mỡ nhỏ bằng nửa hòn bi. Mỗi lần hâm, anh đổ thêm một ít nước lã. Khi nước vừa nóng, cục mỡ vừa bắt đầu chảy ra là anh tắt lửa ngay. Anh sợ để lửa lâu, cục mỡ sẽ chảy ra hết và ngày mai sẽ không có mỡ để dùng. Tiếp tục như vậy, mỗi ngày anh có vài giọt nước mỡ, đổ vào tô canh trại phát cho có mùi chất béo. Một hòn bi mỡ dùng kiểu này có thể kéo được khoảng 15 ngày mới hết.

Tuy nhiên có nhiều anh lại vì thèm chất béo quá nên ăn uống một cách bừa bãi, rất nguy hiểm.

Có lần, đội tôi được đem hột đậu phộng ra để trỉa ngoài rẫy. Tất cả các hột đậu được để trong thùng đạn và đều được trộn bột DDT để trừ sâu rầy. Vậy mà có một số anh, trong lúc trỉa đậu, chỉ thổi sơ lớp bột thuốc trừ sâu dính bên ngoài hột đậu rồi bỏ vào miệng ăn ngay. Vài anh khác, sợ mang bệnh, đem rửa sơ trong mấy vũng nước mưa đọng lại trên mặt đất rồi mới ăn.

Thật ra, không phải anh em chỉ thèm chất ngọt và chất béo mà còn cả những thứ khác nữa: chua, cay, mặn v.v… Riêng hai chất ngọt và béo là 2 chất cung ứng nhiệt lượng nhiều cho cơ thể nên anh em thèm hơn cả. Nói tóm lại, anh em thèm được no bụng. Quá đói, bao tử lúc nào cũng thắt lại, thôi thúc anh em phải kiếm bất cứ thứ gì nhét vào cho đầy cái dạ dầy. Ăn thứ gì cũng được, miễn là no. Thông thường kiếm sắn ăn trám bao tử chắc nhất. Những thứ “xa xỉ phẩm” khác thuộc về cao lương mỹ vị như rắn, cào cào, châu chấu, chuột, cóc, nhái v.v… có càng tốt, không có cũng không cần thiết lắm. Giờ giấc tốt nhất cho việc cải thiện thêm thường là giờ nghỉ giữa trưa khi anh em đi lao động ngoài rẫy.

Nhiều cán bộ biết tù nhân đói nhưng chúng chẳng đếm xỉa gì cả. Đó cũng là chuyện thường tình. Trái lại, cũng có một số cán bộ, có thể xuất phát tự bản chất con người, dễ dãi làm ngơ cho đám tù cải thiện. Cán bộ Qui ở Đội 1 của chúng tôi là một điển hình.

Lúc chúng tôi vào Trại Bình Điền được mấy tháng thì Qui về phụ trách quản giáo đội. Một bữa chúng tôi đi lao động ở lại trưa tại bãi (Việt Cộng gọi là làm thông tầm), anh em trong đội than phiền sắn trại phát ít quá không đủ ăn. Nghe vậy, cán bộ Qui gọi anh trực (chúng kêu là anh nuôi) bảo:

- Các anh vào sâu trong rẫy sắn của dân trung du mà đào thêm một ít, trưa nấu thêm cho anh em ăn. Tôi đứng ngoài canh chừng cho.

Thế là 2 anh lãnh nhiệm vụ, bay vào trong sâu đào thêm sắn cho đội với sự canh chừng của cán bộ Qui, phòng có dân trung du đi tới. Khoảng 10 phút trôi qua, không thấy 2 anh quay ra, tên Qui chửi thề thật to:

- Địt mẹ, ăn trộm mà chậm như rùa, lẹ lên xem nào!

Đang nhổ sắn phía trong, nghe tiếng cán bộ chửi thề, 2 anh nuôi vội vã gánh sắn ra ngay và nhập vào đoàn người của đội đi đến địa điểm công tác. Tên cán bộ Qui đi sau cùng, vẻ mặt tức giận vì 2 anh nhổ sắn trộm chậm quá, sợ dân trung du đi qua bắt gặp biết ăn nói làm sao. Tên Qui là một tên hay cãi bướng với ban giám thị trại và ngược lại bọn cán bộ trong ban giám thị cũng chẳng ưa gì nó, thường trù dập nó nên nó hay tỏ ra bất mãn. Vì vậy nó mới tự động cho tù đào trộm sắn của dân thiểu số chớ thường thường anh em phải xin trước.

Những lúc đi làm công tác lao động tự giác, không có cán bộ quản giáo hay cán bộ dẫn giải (lên rừng lấy gỗ, lấy củi, cắt tranh, bứt mây…), nhiều anh em khi gặp dân chúng thường xin thêm thực phẩm như sắn, khoai, cơm để ăn cho no bụng.

Lúc còn ở Trại Ái Tử, không biết anh em trong cả 5 trại khi đi lên rừng lấy củi gặp dân có thường xin đồ ăn hay không, nhưng có một lần, tôi và anh Huy, khi lấy gỗ về làm nhà cho trại, đi ngang qua một cô gái trung du đang gánh một gánh đồ đạc, anh Huy nghe tiếng một con chim hót, bèn nói với tôi:

- Điền nghe không? Con chim gì nó kêu âm thanh như câu “cơm còn cho cục”.

Cô gái trung du đi bên cạnh, có lẽ không nghe được khúc đầu mà chỉ nghe được 4 chữ “cơm còn cho cục”, tưởng anh Huy xin cơm, liền trả lời:

- Dạ hết cơm rồi anh ạ!

Nghe cô gái trả lời, chúng tôi biết cô ta hiểu lầm nên cùng cười xòa thật to. Điều này chứng tỏ, anh em cũng thường xin đồ ăn của dân chúng lên làm rẫy ở vùng trung du để ăn thêm. Dân chúng vùng trung du tỉnh Quảng Trị cũng rất thương anh em trong trại cải tạo. Thấy cuộc sống anh em quá cực khổ nên họ cũng thường giúp đỡ. Tuy nhiên vì nhiều khi đông quá họ không thể giúp hết được mà trái lại còn tỏ ra bực bội nữa.

Tôi nhớ có một lần, anh em ở các trại lên rừng gánh củi về, khi đi ngang một căn nhà, thấy bà chủ nhà đang cho người cày sào khoai trước mặt để thu hoạch. Anh em dừng chân lại vào xin bà vài củ rồi gọt vỏ ăn sống cho đỡ đói. Tôi nghiệp, bà già thấy người nào vào xin cũng cho vài củ cả. Khoảng 10 phút sau, không biết sao, anh em gánh củi về ngang, mỗi lúc một đông. Lúc đầu chừng một tiểu đội, rồi trung đội, sau lên tới cả đại đội. Người nào thấy khoai cũng đặt gánh xuống vào xin. Trung tá có, Thiếu tá có, Hạ sĩ quan cũng có. Lúc đầu bà già cho mỗi người 1 củ, sau đó thấy đông quá, bà ta tá hỏa tam tinh, quớ lên không biết làm sao. Cuối cùng, bà trở mặt giận dữ, phang một câu làm anh em phải lặng lẽ “di tản chiến thuật”:

- Thôi, thôi, đông quá. “Ẻ” mà ăn!

Thường thường mỗi khi “cải thiện” được gì, anh em phải lặng lẽ mà “làm việc”. Nếu không kín đáo, mấy tên cán bộ biết được chúng sẽ bắt làm kiểm điểm. Chúng bày trò tập họp cả đội để phê bình, góp ý xây dựng v.v… Thường thì thời gian là vào buổi tối trước giờ ngủ. Bọn cán bộ luôn có mặt trong các buổi kiêm thảo đó xem ai không tham gia ý kiến. Chúng dọa sẽ có biện pháp trừng phạt với những cá nhân tái phạm. Nếu không ai chịu đóng góp ý kiến phê bình cho người phạm lỗi, cán bộ sẽ cho là không thật tâm giúp người phạm lỗi nhận ra sai sót của mình để sửa chữa. Những bưổi họp như vậy sẽ kéo dài cho đến khi đạt được những gì chúng mong muốn và thường kết thúc vào nửa đêm. Cái mánh này chúng áp dụng rất có hiệu quả. Anh em cả ngày lao động mệt nhọc, rất cần mấy tiếng ban đêm nghỉ ngơi để lại sức và còn tiếp tục cho ngày kế tiếp. Vì vậy, để tránh cảnh “ngồi đồng”, anh em thường tham gia góp ý tận tình. Lâu dần, anh em hiểu nhau rất rõ, chả ai giận nhau vì những phê bình góp ý đó. Ai nói gì thì nói. Người phạm lỗi cứ nhận khuyết điểm nhưng có cơ hội cứ tiếp tục “phát huy” (tái phạm)!

Có một anh nào đó, chỉ hái có 2 trái chuối xanh bỏ vào đôi giày mang về. Không hiểu sao tên cán bộ Thuận phát hiện được. Hắn tập họp anh em trong đội lại la lối om xòm. Lúc đó là 11 giờ 30 trưa. Nó đứng “dạy đời” chúng tôi cả một tiếng đồng hồ rồi mới cho về trại.

Một trường hợp tương tự với một anh Trung úy. Cũng một buổi trưa, trong lúc tập họp chờ về trại, tên cán bộ dẫn giải bỗng la lên:

- Trong đội, ai có cải thiện gì thì tự giác mang ra.

Nói xong, chờ một lát, chẳng thấy ai mang gì ra cả. Nó tiếp:

- Tôi nhắc lại, ai có cải thiện gì thì tự giác mang ra.

Lại vài phút trôi qua, cũng không ai nhúc nhích. Nó từ từ tiến lại trước mặt một anh, đưa tay lên mở túi áo trên ngực. Vừa mở nắp túi áo, một con nhái từ trong nhảy ra rơi xuống đất. Đang trong ngục tù được ra ngoài, con nhái chỉ nhón cẳng phóng vài cái đã biến mất dạng vào bụi lách gần đó. Thấy thế ai cũng phì cười mặc dù trời nắng chang chang, nóng như thiêu như đốt, bụng người nào người nấy đều đói meo. Vậy mà toàn đội phải đứng yên tại chỗ để nghe nó “giáo dục”, la mắng đủ điều. Thì ra nó đã để ý từ khi anh này rượt theo vồ bắt con nhái, nhưng nó vờ im lặng khiến anh ta tưởng nó không biết. Rút tỉa kinh nghiệm này, về sau, mỗi lần “cải thiện”, anh em thường dòm trước dõi sau, xem có cặp mắt cú vọ của tên cán bộ nào bám sát hay không. Tuy vậy, đôi khi quá “khẩn cấp”, anh em cũng mặc, tới đâu hay tới đó.

Chẳng hạn, một buổi sáng cả đội đang trên đường ra rẫy trồng sắn, ngang một tảng đá khá to, một anh ngay sau lưng tôi, thình lình nhảy vọt khỏi hàng thật nhanh, chạy như bay tới cạnh hòn đá khiến tôi giật mình. Ai cũng lấy làm lạ, dõi mắt nhìn theo. Thì ra anh ta phát hiện một cái nấm “mồ côi” (nấm mọc một cái duy nhất) to bằng cái mũ. Sợ người khác dành mất, anh ta liền vọt ra khỏi hàng để bứt nếu không e có người dành mất. Đã có lần, nhiều người cùng thấy một cái nấm nên ùa nhau tụm lại, cán bộ thấy thế không cho nên đành tiếc hùi hụi. Nấm, có số lượng chất đạm cao, nên ai cũng muốn thu hoạch cả. Hồi còn ở Trại Ái Tử, mỗi khi đến mùa nấm, lúc đi lao động ngoài trại, ai ai cũng đi tìm nấm cả. Vừa đi vừa nhìn, trái, phải, trước mặt sau lưng, soi mắt vào từng kẽ đá để hy vọng thấy cây nấm nào lú ra. Người may mắn có khi thu hoạch cả bao cát. Có người loay hoay cả ngày chả được một cái nào. Một hôm, sục sạo mãi mà chả tìm được cái nào, gặp anh Trần Văn Trí, Đại úy Trinh Sát SĐ1BB, tôi hỏi:

- Trí, tụi nó tìm nấm ở đâu mà hay quá? Nhiều thằng hái được cả 2 bao cát. Mình mò hoài không có cái nào là sao?

Anh Trí trả lời:

- Điền tưởng đâu dễ tìm lắm sao! Phải chờ ngọn gió heo may về, rồi phải xem vùng đất đó thế nào, độ ẩm ra sao, chứ đâu có dễ.

Thấy anh ta nói như một tay chuyên nghiệp, sành sõi về phương pháp tìm nấm, tôi đoán chắc anh ta đã thu hoạch được khá nên hỏi:

- Vậy hôm nay, anh hái được khá không?

- Mình cũng cóc có cái nào!

Anh ta trả lời chán nản. Thì ra lý luận thì dễ, thực tế lại hoàn toàn khác hẳn. Nói là đi tìm nấm, thực ra trong khi tìm nấm, bất cứ thứ gì có thể ăn được anh em đều sẵn lòng. Một lần, may mắn, anh em phát giác một con trăn trong bụi lách nhân lúc đang phá rừng, phát quang để làm rẫy. Anh Nguyễn Thuận, Thiếu tá LLĐB, vừa đưa cao cái rựa tính chặt bụi lách thì thấy một con gì khá to, đen sì, nằm cuộn tròn giữa bụi cây. Anh ta hoảng, nhảy thụt lùi lại và la to:

- Con gì bay ơi! Con gì to quá.

Chỉ cần nghe tiếng “con gì” là anh em xung quanh ào lại, kẻ cầm rựa, người cầm cây. Lúc đó mọi người mới thấy rõ hình dáng con trăn. Tất cả nhào tới đập túi bụi. Con trăn kẹt trong bụi lách không kịp bò ra thì đã bị đập chết. Giả sử nó không nằm trong bụi lách mà ở giữa rừng trống chắc chắn cũng không thể nào thoát được những cánh tay của những tên tù ốm đói lâu ngày. Con trăn sau đó được kéo ra ngoài. Nó khá lớn, thân to bằng cái bắp chân người lớn, dài có tới 4m. Thế là trưa hôm ấy, tất cả anh em trong đội có một bữa thịt trăn “thịnh soạn”. Nếu mà lần nào “mưu sinh” cũng được như thế thì hay biết mấy. Trong thời gian ở tù, đây là lần đầu tiên tôi được ăn thịt trăn. Cũng mừng và cũng may. Mừng vì có thịt ăn. May vì chúng tôi đông người. Cứ thử một mình mà coi, cỡ con trăn này, nó dám nuốt trửng cả cái thân hình tôi dễ dàng. Lạng quạng không chạy cho lẹ, bỏ mạng với nó như chơi chứ đừng nghĩ đến chuyện có thịt trăn ăn!

Đã xảy ra rồi! Anh Sỏ, Thiếu úy BĐQ, một hôm đi bứt bổi về làm phân bón cho trại. Sau khi bứt đủ, anh bó lại thọc đòn xóc vào để sẵn, tính đi kiếm chút rau ráng để “cải thiện” rồi mới về. Cầm cái liềm đến một gốc cây bên bờ suối, anh Sỏ thấy một con gì màu đen, dài dài đang trườn tới. Khi nhận ra đó là con trăn, anh run lên, quay người bỏ chạy. Vừa chạy vừa nhìn lại, anh thấy con trăn đang phóng đuổi theo. Khiếp quá, anh chỉ kịp lao một mạch lại chỗ gánh bổi hồi nãy, chụp cái đòn xóc bỏ lên vai và chạy trối chết. Vì sợ quá, mồ hôi anh toát ra như tắm. Về đến trại, mặt anh xanh lè xuýt nữa té xỉu. Thật là kỳ quái! Đi cải thiện, lại gặp món “cao lương mỹ vị” mà lại bỏ chạy thục mạng. Cái may cho anh ta là số anh chưa tới, chứ nếu không chạy kịp con trăn đã “cải thiện” anh ta rồi! Không biết anh ta có phóng đại không hay sợ quá trông gà hóa quốc chứ, theo lời anh kể lại, con trăn này thân to bằng cỡ cột nhà kiểu kiến trúc ngày xưa và dài tới 8, 9m! Một mình gặp rắn còn dám liều mạng đương đầu chớ gặp trăn thì “tẩu vi thượng sách”. Cũng may, đi rừng, năm khi mười họa mới gặp trăn một lần. Thường thì anh em thấy rắn nhiều hơn. Hễ thấy rắn là anh em tấn công trước và chắc chắn, con rắn nào gặp tù cải tạo thì đời nó kể như bế mạc.

Nhiều người cho rằng rắn càng độc, càng bổ. Mật rắn có công dụng trị bệnh đau lưng. Bởi vậy, mỗi lần ai làm thịt rắn là tôi lại đến xin cho được cái mật rồi bỏ vào miệng nuốt ngay. Có lần, anh Diên, Trung úy TQLC đi giữ trâu về đập được một con rắn. Thấy thế tôi cũng lùa trâu về, vì trời cũng đã gần tối, hơn nữa tôi muốn gặp để xin anh cái mật rắn. Khi cho trâu vào chuồng xong xuôi, tôi bước xuống dòng suối ở phía sau chuồng trâu xem anh đã làm thịt con rắn chưa. Vừa tới nơi, tôi thấy một hình ảnh giống hệt một bức tranh thời thượng cổ mà tôi có dịp xem trong cuốn sách sử ký hồi còn học Trung học: anh Diên đang đứng trên một tấm ri bắc ngang dòng suối, mình trần như nhộng, một tay bóp cổ con rắn, tay kia đang kéo lớp da con rắn lột từ trên xuống đến tận đuôi. Tôi bỗng bật cười và nói với anh:

- Hình ảnh này không khác hình ảnh thời thượng cổ cách đây hàng vạn năm.

Nghe nói vậy, anh Diên cũng mỉm cười và dĩ nhiên anh ta đã cho tôi cái mật rắn. Nhận cái mật từ tay anh Diên, tôi bỏ vào miệng nuốt cái ực. Hy vọng ngày mai đỡ đau.

Thông thường, muốn “cải thiện” anh em trong trại tù phải chờ lúc đi lao động vì hầu hết những “nguồn cải thiện” đều ở ngoài trại. Cho nên, nhiều anh em đang đau ốm cũng mong sao bệnh chóng lành để đi lao động ra ngoài hầu có cơ hội “cải thiện”. Tuy vậy, nếu phải ở trong trại, có anh vẫn nghĩ ra được cách nào đó để cải thiện cho đỡ đói.

Anh Phan Ngọc Vấn, Thiếu tá, lấy vỏ sắn gọt lớp lụa ngoài đi, rửa thật sạch, xắt nhỏ như xắt vỏ dưa rồi ngâm nước muối. Khoảng một tuần sau lấy ra ăn, ngon như dưa chua.

Lại có người “cải thiện” không phải vì đói mà vì trị bệnh như trường hợp bác sĩ Đệ ở Thành Nội Huế. Bị bắt năm Mậu Thân 1968, bác sĩ Đệ bị đưa lên trại cải tạo đâu trên vùng núi tỉnh Quảng Trị hay Thừa Thiên gì đó. Có một anh ở trại tôi, từng tù chung với bác sĩ Đệ, kể lại, mỗi lần đi lao động, hễ thấy bất kỳ xương của thú vật gì, bác sĩ Đệ đều lượm hết. Bỏ vào bao ny-lông đem về trại, sau đó ông tán nhỏ thành bột để ăn dần. Có thể do bẩm sinh cơ thể bác sĩ Đệ thiếu chất calcium quá nhiều nên ông phải nghĩ ra cách này để bù đắp lại. Hai hàm răng ông hư gần hết, nhờ bột xương mà đỡ lung lay.

Ngày anh Trương Thúc Cổn được thả từ trại tù cải tạo ra, sau khi về quê nhà ở Quảng Trị 2 tuần, anh vào Huế và ghé thăm tôi. Anh nói có quen một người bạn, từng ở tù chung với bác sĩ Đệ. Khi bác sĩ Đệ chết, chính anh ta cùng vài người nữa đã chôn cất nên còn nhớ vị trí ngôi mộ trên núi. Gặp tôi, anh Cổn hỏi xem tôi có biết thân nhân gia đình bác sĩ Đệ hiện nay ở đâu để mách giúp cho họ lên thăm mộ. Sau đó tôi có dọ hỏi vài người ở Huế nhưng họ bảo, gia đình bác sĩ đã vào Sàigòn từ lâu và không còn tin tức gì cả.

Tóm lại, mưu sinh chẳng qua là bản năng con người. Vì quá đói, vì nhu cầu tồn tại, hầu hết anh em trong các trại tù cải tạo đều phải tìm cách “cải thiện” để sống còn, để có sức lao động, nếu không sẽ bị gục ngã. Cả 500 người trong trại tôi ở, chắc chắn không ai không có lần tìm cách “cải thiện”. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo điều kiện mỗi người đều có cách ứng phó riêng của mình. Có người khôn khéo, kín đáo không để đám cán bộ bắt gặp la mắng, xài xể. Có người liều lĩnh hành động bất chấp sự có mặt của những tên cán bộ.

D. CHẾ ĐỘ THĂM NUÔI
(Còn tiếp)



       



Xoá hình nền                                                       Tăng độ chữ

Đăng Bài Mới    Góp Ý Kiến   
cron
phpBB - Creating Communities
Vista theme by HelterSkelter © 2007 ForumImages
Vista images © 2007 Microsoft